Thursday, November 17, 2016

SÊN BIỂN


Những loài sên biển mang đủ hình thù kỳ quái, màu sắc sặc sỡ khiến nhiều người cho rằng chúng chính là bằng chứng về các sinh vật ngoài hành tinh đang hiện diện trên Trái Đất.



Sên lá biển (Elysia Chlorotica) có khả năng tự sản xuất thức ăn bằng cách quang hợp. Các sắc tố màu xanh lá cây bên trong cơ thể chúng chính là chất diệp lục, sắc tố được tìm thấy trong cây xanh sử dụng để hấp thụ năng lượng ánh sáng để quang hợp. Tuy nhiên sên lá biển không tạo ra chất diệp lục, chúng được lấy từ tảo.

Ceratosoma Amoena khá đẹp mắt với những chiếc lông vũ quyến rũ.
Thiên thần xanh (Glaucus Atlanticus) có tên gọi đặc biệt nhờ cấu tạo cơ thể đặc biệt cùng màu xanh lam đẹp mắt.
Loài sên biển kỳ lạ này có tên khoa học Phyllodesmium Poindimiei.



Sên biển Janolus Fuscus với bộ cánh như một vũ công ba-lê.

Sên biển Cadlinella Ornatissima trông không khác một bông hoa.

Sên biển Dirona Albolineata.

Loài sên được gọi với tên Thỏ biển(Acanthodoris Pilosa) vì ngoại hình khá giống một chú thỏ bông trắng muốt.

Loài sên biển có tên gọi Cừu biển (Costasiella Kuroshimae) có ngoại hình giống như loài cừu.



Sên biển Cyerce Nigricans có hình dáng như một quả thông khô.

Sên rau diếp biển (Elysia Crispata) ngay từ tên gọi cũng cho người ta cảm giác về hình thù giống loại rau trên cạn.

Flabellina Iodinea như một vũ công samba.

Janolus Barbarensis mỏng manh và đáng yêu.

Hai chiếc sừng càng khiến cho sên biển Chromodoris Alius thêm đáng yêu.

Sên biển Hypselodoris Apolegma duyên dáng với viền trắng quanh thân hình màu tím đẹp mắt.





Sên biển bò Địa Trung Hải (Vaquita Suiza) có lẽ bắt nguồn từ hình dạng giống một chú bò sữa.

Sên biển Nembrotha Kubaryana.

Sên biển Onchidoris Bilamellata.

Sên biển Donut Nudibranch.

Sên biển Phyllodesmium Serratum lại giống như một chùm nho.

Sên biển Trinchesia Yamasui Hamatani mảnh mai nhưng rực rỡ và nổi bật.



Sên biển Flabellina lại gần như chiếc chổi lau nhà màu hồng.

Vẻ đẹp của loài sên biển Okenia Hopkinsia Rosacea.

Sên biển Cuthona Sibogae như diện chiếc váy của vũ công vũ điệu samba.




Sên biển như một vũ công.

Sên biển Goniobranchus Albopunctatus.

Một chú sên biển đáng yêu với hình dáng như nhân vật truyện tranh Pikachu.



Sên biển Mexichromis Multituberculata sở hữu những chiếc tua dài mềm mại màu cam.

CON BU







Lúc qua ở bên Tây, thỉnh thoảng tôi về thăm mẹ ở tỉnh xa. Mẹ nuôi chó. Thấy mẹ cưng quy chó, tôi cũng phải nể nang nó ra mặt. Tôi mạnh dạn đưa tay vuốt ve đầu nó nói vài ba câu xã giao cho ra vẻ có tình (để làm vui lòng mẹ). Nhưng tôi nói tiếng Việt nó chẳng hiểu gì cứ sủa gâu gâu. Mẹ bảo phải nói tiếng Tây. Tôi chột dạ, lỡ nói không đúng văn phạm, chắc nó chẳng hiểu. 


Trong phòng khách, con chó được ngồi một vị trí ưu tiên nhất, đó là chiếc ghế bọc nệm gần mẹ tôi. Trong phòng ăn, nó cũng chiếm một vị trí gần bà chủ nhà. Thức ăn của nó được nấu riêng, không phải là thứ dư thừa. Mẹ tôi gọi nó là Bu (viết theo chữ Pháp là Bou). Cái tên dễ gọi không lôi thôi như Jean Louis David, hay Jonathan. 

Tối ngủ, mẹ nói Bu qua ngủ với mẹ, còn phòng nó để dành cho tôi. Đó một căn phòng có giường rộng dành cho khách, nhưng không có khách thì Bu chiếm ngự. Căn phòng có mùi đặc biệt, dù thay áo gối ra giường khác sạch sẽ tươm tất, tôi vẫn ngửi được cái mùi kỳ lạ từ khi bước vào phòng. Đó chính là mùi của con Bu, nó khác với mùi của con người. Suốt cả một đêm tôi không thể nhắm mắt ngủ vì cái mùi này. 

Cuộc đời mẹ, từ những ngày ấu thơ, lớn lên lấy chồng cho đến nay, trải biết bao thăng trầm. Tôi ít dịp được ở gần mẹ, sau năm mười ba tuổi, mẹ đã đi buôn bán xa rồi. Tôi vào học nội trú trường bà sơ, kỷ luật nghiêm nhặt. Cuộc chiến tranh Việt Pháp đã làm rách nát mọi gia đình, trong đó có tôi. Cha tôi đi kháng chiến chống Pháp, mẹ ở nhà buôn bán tần tảo với người Pháp (đôi khi lo tiếp tế cho cha tôi ở mật khu). Nhờ có học tiếng Pháp, mẹ làm ăn phát đạt. Mấy tấm hình của mẹ chụp ngày xưa, thấy mẹ rất đẹp. Có lẽ nhờ ở những ưu điểm ấy mà mẹ tôi sớm chịu những oan trái cuộc đời. Tôi luôn ám ảnh, cho rằng một con người có ưu điểm, hay có may mắn hơn người khác thì phải bị thua thiệt ở mặt nào đó. Tôi nhớ có lần gặp một bác lớn tuổi cho biết rằng mẹ cháu xưa kia đẹp lắm. Tôi thật xúc động, chỉ muốn ôm bác nói vạn lời cám ơn. Tôi là một đứa con như muôn vạn đứa con khác, luôn mong muốn nghĩ rằng mẹ của mình là người đàn bà hơn người. Mẹ đẹp hơn người, giỏi hơn người, thông minh hơn người, nhưng, mẹ khổ hơn người. Nghĩ vô lý thật. 

Mỗi khi có tôi bên cạnh, mẹ kể chuyện đời xưa, những chuyện buồn khổ ám ảnh mẹ không nguôi. Tôi an ủi, mẹ ơi đừng nhắc những chuyện buồn nữa, sao mẹ không nhớ những chuyện vui. Mẹ lắc đầu, mẹ chẳng biết cái chi vui mà kể. Thuở nhỏ năm lên mười tôi thuộc thơ TTKH, vì mẹ hay ngâm nga. Mẹ cũng ngâm lại bài thơ của cha tôi làm tặng mẹ khi hai người mới thương nhau, ngâm xong mẹ nói, thương vậy mà cũng bỏ đi. 

Đang lan man nghĩ ngợi, nửa đêm, con Bu bỗng chạy qua phòng tôi, có lẽ muốn chiếm lại giường ngủ. Nó nhảy phóc lên giường. Tôi khiếp vía ngồi ngay dậy bật đèn sáng. Nó nhả vào cạnh tôi một khúc xương ống trắng hếu, lại gầm gừ nhìn tôi. Con này thật quá quắt, nó muốn đuổi mình đây.

Sáng mai tôi đáp xe lửa về Paris sớm, vì giận con Bu quá. Mẹ tôi hỏi sao không ở lại thêm. Tôi buột miệng: ngủ với chó hôi quá chịu không được. Câu trả lời rất đúng sự thật, nhưng làm mẹ phẫn nộ. Mẹ giận dữ nói tao nhờ nó mà sống được đến ngày hôm nay, con cái có đứa nào chịu ở với tao, mi chê nó hôi tức chê tao hôi. Tôi ân hận đã lỡ lời. Tôi chào mẹ ra về, con Bu thấy thế, vì cũng không mấy ưa tôi, cứ đứng ở cửa sủa gắt lên. Đáng lẽ ra tôi phải vung tay nói muôn ngàn lời cảm tạ với Bu, rằng em đã thay mặt chị ở với mẹ, yêu thương mẹ, em đã giúp thêm nghị lực cho mẹ sống với đời này, chị biết em là con người hóa kiếp chó, em nhiều tình cảm đối với mẹ, mẹ bảo gì em cũng vâng lời, không hề tỏ ý kiến trái lời mẹ, em là đứa con ngoan ngoãn nên được mẹ thương yêu nhất nhà. Tôi thầm thì nói với Bu khi ngồi trên chuyến xe lửa tốc hành trở về. Ừ! Ừ nhỉ, tôi sẽ viết cho nó bức thư dài tạ lỗi. Nhưng về đến nhà, công việc dồn dập trước mắt, tôi lăn vào cuộc sống mệt mỏi và quên bức thư tha thiết dự tính viết cho Bu. 

Mẹ tôi giam giữ quá nhiều cay đắng trong lòng, chỉ cần một vết nứt nhỏ, niềm đau nỗi khổ ấy chợt vỡ ra, tuôn ào ạt. Mẹ viết cho tôi một bức thư dài nói về con chó của mẹ. Mẹ ca tụng nó như một đứa con nuôi hiếu thảo nhiều tình cảm, và kết luận nó là con chó nhưng tốt hơn con người. Những chuyến về thăm Việt Nam, mẹ đem Bu đi theo, mua cho nó một chỗ ngồi trên máy may. Mẹ không thể sống xa Bu. Bu là điểm tựa tinh thần, là sự an ủi, là sự ve vuốt cho nỗi cô liêu hoang vắng đời mẹ. Mẹ quyết định về sống lại ở Việt Nam, vì theo mẹ, xứ Tây này ích kỷ quá, sống không nổi. 

Năm vừa qua, vào nửa đêm, tôi bị đánh thức dậy vì cú điện thoại gọi từ Sàigòn cho biết mẹ đã chết rồi. 

Khi người mẹ của mình chết đi, mình như thế nào nhỉ? Muôn ngàn mũi kim châm chích vào thịt da mình, muôn ngàn tấn ân hận đè lên trái tim mình. Vé máy bay mua không kịp, tôi về trễ, không kịp giã từ mẹ, không kịp đưa mẹ vào lò thiêu xác. Không kịp gì cả. Nếu tôi suy nghĩ kịp, nếu tôi hành động kịp, cuộc đời tôi bớt tiếc nuối nhiều chuyện. 


Hôm tẩm liệm mẹ ở Sàigòn, dì tôi nói con Bu chạy vô chạy ra tru lên thảm thiết, người ta phải cột cho nó vành khăn trắng trên đầu. Nhìn tấm ảnh mẹ để trên quan tài bên cạnh vòng hoa phong lan màu tím, mẹ cười tươi dịu dàng. Mẹ đẹp quá. Mẹ vui lòng được chết trên quê hương mình sau nửa đời xa cách. 
Dì tôi nói chị mất thế mà yên. Sống khổ, nên chết là yên, là hạnh phúc. Chỉ có chết, mẹ mới được bình an. Tôi ôm bình tro mẹ trong tay nước mắt chảy dài, tự hỏi tại sao lúc mẹ còn sống, tôi không hề một lần nào ôm mẹ trong tay. Tôi xa cách mẹ và mẹ xa cách tôi. Mới đó mẹ chết rồi. Tôi ngơ ngẩn lảm nhảm. Đất vẫn quay, trời vẫn có ngày có đêm, xe vẫn bóp còi inh ỏi trên đường phố Sàigòn, chỉ có mẹ là chết. 

Tôi không bao giờ gặp mẹ trên cuộc đời này nữa. 

Hôm tôi về đến nhà Sàigòn, con Bu chạy ra nhìn tôi, đôi mắt đen láy chăm chú nhận diện quen biết, vẫy đuôi mừng rỡ. Cả nhà ngạc nhiên, tôi cũng ngạc nhiên, sao nó còn nhớ tới mình. Bu nhớ chứ, nó nhớ tôi là con của mẹ, người đã sống cùng với nó như hình với bóng. Mẹ tôi bỏ nó ra đi mãi mãi không về. Mấy ngày sau khi mẹ mất, nó bỏ ăn nằm ủ rũ trong góc nhà. Khi tôi về, bỗng dưng nó quấn quít bên cạnh tôi. Tôi ngồi đâu, Bu cũng lẩn quẩn theo ngồi bên cạnh. Ai bảo gì cũng mặc, chỉ có tôi bảo nó mới nghe lời. Các dì bảo con chó khôn thật, vì tôi giống mẹ. Máu huyết tôi là máu huyết mẹ, Bu hiểu điều ấy hơn ai hết, và trong thâm tâm nó, hy vọng rằng tôi sẽ nuôi nấng nó thay mẹ tôi (có thể nó quên chuyện đã từng dọa nạt tôi trong đêm khuya). 

Buổi tối, không ngủ được, vào nửa đêm, tôi bật đèn ngồi dậy. Bu nằm dưới chân giường đưa đôi mắt đen buồn thảm nhìn tôi. Đôi mắt nó ướt như vừa mới khóc. Tôi không ngủ, nó cũng không, cả hai chúng tôi đều nhớ mẹ. Tôi đưa tay vuốt đầu Bu, nó dụi đầu vào tay ư ử ra chiều cảm động. Bu thè lưỡi liếm vào chân tôi, cử chỉ Bu thường làm với mẹ, chiếc lưỡi mềm mại của Bu thật trìu mến. Tôi thương mẹ quá, tôi thấu hiểu tại sao Bu chiếm được tình thương của mẹ. Có khi nào tôi ôm chân mẹ như thế chưa. Bu đã hôn lấy bàn chân gầy ốm tật nguyền của mẹ mỗi ngày, mỗi đêm khi mẹ mất ngủ. Tôi đau đớn ân hận. 

Tôi bảo nó lên giường nằm bên cạnh. Mẹ nói đúng, Bu xứng đáng hơn tôi. Có lẽ mẹ tôi ở nơi nào đấy, đang mỉm cười với con gái, biết tôi thương yêu Bu như mẹ đã thương yêu nó. Điều này chắc chắn mẹ vui lòng lắm. 

Khi đến tòa lãnh sự Pháp để lo giấy tờ khai tử cho mẹ, tôi bị làm khó dễ ở cổng gác với nhân viên Việt Nam, lý do hôm nay đông khách, để lần khác. Tôi xin trực tiếp nói chuyện với nhân viên sứ quán người Pháp, chẳng đặng đừng, họ cho tôi vào. Trong văn phòng dịch vụ, không thấy có bóng khách nào ngồi chờ. Anh Tây trẻ ra bắt tay chào mời ngồi đàng hoàng. Chị đầm lo giấy tờ, nhanh chóng đưa giấy xin ký tên vào tờ khai. Chị đầm nói, mấy bà lớn tuổi về đây ở đều bị chết sớm, không khí ở đây rất độc vì dơ bẩn. Trong cử chỉ nói năng của tây đầm ở tòa lãnh sự, họ xem tôi là người đồng hương. Tôi cũng nhận thấy có điều thân ái giữa họ và tôi, điều này tôi khó tìm ra được ngay, khi tiếp xúc với đồng bào trên cố hương mình. Một cảm giác nhói đau trong trái tim, tôi tự hỏi nơi nào là quê hương thực của mình, Pháp hay Việt Nam? Tôi nhìn xung quanh tòa nhà lãnh sự, không khí thoáng mát hơn ngày ấy, ngày mà gia đình tôi lo lắng khép nép, e dè hồi hộp vào làm giấy tờ xin đi ra khỏi xứ sở này. Ngày ấy, tôi người Việt Nam. Hôm nay, tôi vào đây với thái độ ung dung của một công dân Pháp, được đối xử lịch sự thân tình. Tôi là người gì, Pháp hay Việt? Lúc ở Tây, tôi sống giữa những kẻ khác chủng tộc. Về Việt Nam, tôi thấy mình không hẳn là người Việt. Đó là sự mâu thuẫn rắc rối khá đau lòng.

Tôi sắp sửa trở về Pháp, thấy tôi lăng xăng dọn dẹp áo quần, hình ảnh mẹ vào vali, Bu như cảm thấy một điều gì đó, nó quấn vào chân tôi không rời. Tôi ở nhà bếp nó chạy xuống bếp, tôi lên nhà trên nó chạy lên theo sau bám sát, thỉnh thoảng Bu ngẩng đầu nhìn tôi thắc mắc. Đôi mắt Bu lạ lùng, đôi mắt đen tuyền long lanh và thắm đẫm dịu dàng, đẹp hơn cả mắt người. Mẹ ơi, bây giờ con mới hiểu tại sao mẹ yêu quý Bu đến thế. Tôi lặng người nhìn đôi mắt tha thiết. Ngày mai tôi đi, không thể đem nó theo cùng, tôi không thể cưu mang nó như mẹ tôi. Phải để Bu lại đây thôi. Càng đến giờ ra đi, tôi càng lưu luyến nó, thứ tình cảm ủy mị này tôi chưa hề trải qua với người, nhưng với con động vật này, tôi biết mình cũng yếu đuối quá. Tôi tránh những cử chỉ vuốt ve, sợ làm nặng thêm cho nó, cho tôi, nỗi chia lìa. Bu là tình thương của mẹ, tôi thương nó chính là thương mẹ. Điều này tôi mới vừa nhận biết, tôi trả hiếu mẹ tôi quá muộn màng. Không kịp. 

Tôi và dì đang bàn tính chuyện nuôi nấng Bu. Dì tôi năm nay cũng già yếu, trí óc lẩn thẩn quên trước quên sau. Dì nói con Bu quen ăn sướng rồi, ở với dì ăn cực không biết nó có chịu được không. Mẹ sáng nào cũng cho nó bánh mì quết bơ, bơ nhiều ăn, bơ ít chê, nó thích ăn thịt bò chứ không ăn thịt heo, phải đi mua xương phở cho nó nhai. Tôi nói tập cho quen có gì ăn nấy, mẹ mất rồi, phải biết thân biết phận chứ. Tuy nói vậy, tôi không tránh khỏi xót xa. 

Buổi sáng lên phi trường, để tránh sự đau lòng của Bu, tôi nhờ người nhà đem hành lý ra xe trước, trong lúc Bu ăn điểm tâm sau bếp, tôi lẹ làng lén ra xe. Khi xe rồ máy, tôi nghe thấy tiếng sủa inh ỏi trong nhà, tiếng sủa tru lên gào thét. Xé lòng. 

Xe ngang qua ngôi nhà thờ có tro tàn của mẹ, nước mắt tôi chảy dài. Có một sinh linh bị hai lần tuyệt vọng, con Bu, một lần mẹ bỏ nó, một lần nữa tôi bỏ nó. Mẹ ra đi không bao giờ trở lại, còn tôi biết bao giờ trở lại xứ sở này, và lúc bấy giờ Bu còn sống chăng. 

Mẹ tôi, một người đàn bà cưu mang tất cả sự khốn cùng rách nát của chiến tranh, cưu mang gánh nặng nỗi nhục nhằn của một kiếp người. Nỗi cô đơn lạnh lẽo xứ người làm mẹ xác xơ, co quắp trước một thói đời ích kỷ, mẹ mất hết hy vọng. Mẹ hoang phế trong đời sống này. Mất quá khứ, mất hiện tại, vô vọng với người thân. Mẹ xa lánh mọi người, chỉ trừ nó, con chó./.


PHÂN ƯU ANH HUỲNH HỮU ĐƯỚC

Inline image 1

Thursday, November 10, 2016

“NGHỊ … THÀNH ĐÔ” SẼ XÓA SỔ!




(Để kính tặng quý Thân Hữu cùng Đồng Hương Trong Ngoài Nước,
 đặc biệt các Anh Công An Bộ Đội CSVN)

Hỡi các Anh! Công An Bộ Đội!
Hãy bình tâm đừng vội trách hờn
Xin Anh suy xét thiệt hơn
Vì là trách nhiệm chớ sờn chí trai.
Nhân dân biết! ván bài Hán hóa
Có nghĩa là Tàu xóa Việt Nam
Cũng vì mối hận nghìn năm
“Môi hở răng lạnh” khiến tằm ăn dâu!?
Con đường đó! bọn Tàu xếp đặt
“Nghị Thành Đô” buộc thắt  “Kim Cô”
Khẩu hiệu Đoàn Đảng tung hô
“Trí tuệ Hữu Nghị”?  Tàu vô đè đầu!?
Bằng hình thức! “mậu thầu, mậu dĩ”
Tàu tấn công ầm ỹ tuyến đầu
Ải Nam Quan! phải cống hầu
Lùi sâu biên giới, ngậm sầu bang giao.
Ôi tủi nhục! đảng vào nhuộm máu
Xé tan xương, thịt xáo thây phơi
Vì đảng xem đó trò chơi
Cấm cản tưởng niệm vẽ vời lưu manh.
Hỡi lãnh đạo! các Anh Bộ Đội
Súng trong tay! đánh đổi sự đời
Liệt Sĩ nào có ai mời? ?
Chỉ vì danh dự đất trời Sĩ phu.
Hết chỗ nói! ô dù đảng cộng
Hỏi Anh Em?  danh vọng ảo huyền
Đua tranh hai chữ lợi quyền
Hậu quả Yên Bái! lan truyền khắp nơi.
Bởi chế độ! kéo mời xôi thịt
Nên Cao nguyên “Bô Xít” nhảy vào
Môi trường hủy hoại xới đào
Khởi nguyên lũ lụt, Dân gào thét kêu.
Mưu thâm độc! Tàu nêu bất cập
Dụng bang giao! du nhập nhân công
Trá hình binh lực xung phong
Đợi ngày khởi điểm, xiết vòng bủa vay.
Cùng kế sách! sắp bày binh trận
Hoàng Trường Sa! Tàu lấn chiếm luôn
Ngư dân ngậm miệng chết buồn
Chết tức, chết tối, chết suôn ba miền.
Đảng thấy đó! Rừng tiền bạc Biển
Nhưng phớt lờ! bàn chuyện vu vơ
Chỉ huy Tướng Tá tỉnh bơ
Bởi chia chác đủ, giả vờ điếc đui.
Tàu thắng thế! ngược xuôi một cõi
Ngầm giao thương! mọt mối “phọt mô sa”
Thầm mưu thải chất độc ra
Giết chết Hải sản, Dân ta chết dần.
Tàu thâm độc! ngày gần nghị quyết
Nỗi đau nào?  da diết Nước ta
Biển Rừng địa phận gần xa
Thị thành đổi Họ! quê ta đổi Màu!?
Hỡi Anh Em! niềm đau đã thấy
Con đường nào?  Anh hãy chọn đi?
Dại Khôn chỉ một lối suy
Đừng giống Tây Tạng! Tàu đì thành than.
Thiên An Môn! bức màng tắm máu
Họ ra tay tàn bạo man di
Chính họ chẳng sót thương chi?
Còn ta đâu nghĩa sánh bì ăn thua? ?
Rồi Bộ Đội! họ lùa lên núi
Làm lao công, chết xụi thân tàn
Anh Công An! khỏi cần bàn!
Nào khác Bộ Đội, xếp hàng lãnh cơm!?
Vợ Con Anh! Tàu dòm, Tàu chọn
“Nghị Thành Đô” bài toán đổi hai
Phụ nữ phải gánh, gồng đai
Nai lung phục vụ cả Hai Ba chàng.
Tàu xóa sổ! đừng màng sống sót
Hòng đem thân liếm gót lũ Tàu
Bài học rút tỉa trước sau
Ngàn năm phục hận binh đao nhọc nhằn.
Anh biết đó! chi bằng dứt khoát
Chần chờ chi?  giải thoát chính mình
Ấy là sự thế phân minh
Hồn Thiêng Sông Núi hữu tình Nước Non. /-

KHAI TRINH
Houston, 05/11/2016

Tuesday, November 8, 2016

VOVINAM ĐI VÀO NÔNG THÔN



CB Trần Văn Khánh

Năm 1968 tôi là CB/XDNT tỉnh Long An, một trong những người từ những đoàn gần tỉnh lỵ được gọi về học võ mỗi tháng một tuần lễ trên sân bóng trước tiểu Khu Long An.

Khi tôi hỏi “cán bộ có súng tại sao phải học võ”, thì huấn luyện viên trả lời là nếu có thêm khả năng võ thuật, cán bộ sẽ có thể lực khỏe hơn, cầm súng được vững hơn để nâng cao kỹ thuật tự vệ, tạo sự tin tưởng vào khả năng tác chiến của mình trước bất cứ đối thủ và tình huống nào; đồng thời cũng để chứng tỏ cho các đơn vị bạn rằng, mặc dù là đơn vị bán quân sự, nhưng tinh thần và khả năng tác chiến của CB/XDNT vẫn đủ cao.

Trước kia, việc học võ thực hiện lẻ tẻ tùy theo mỗi tỉnh đoàn, nhưng đến năm 1970 thì phong trào này đã trở thành một trong những môn huấn luyện chính thức của chương trình bình định và phát triển nhằm đưa Vovinam đi vào nông thôn.

Vovinam, tên quốc tế  hóa của “Võ Việt Nam”, hay còn gọi là “Việt Võ Đạo”, đến với CB/XDNT là một cơ may của đất nước, nhờ mối thâm tình giữa Đại tá Nguyễn Tài Lâm, Giám Đốc Nha Cán Bộ,  và Võ Sư Trần Huy Phong, Giàm Đốc võ đường Hoa Lư ở Sài Gòn.

Trước đo, để khỏi bị bắt nạt, tôi cũng đã từng “tầm sư học đạo”, và đã từng nghiên cứu xem môn võ nào thích hợp với mình, vì tôi suy nghĩ rằng, mỗi môn võ đều có nguồn gốc và lễ nghi riêng, như Đô Vật của Mông Cổ, Thiếu Lâm của Trung Hoa, Judo của Nhật Bản, Muay Thai của Thái Lan và Taekwondo của Đại Hàn…

Những môn võ trên có những phương pháp tập luyện và giao đấu phù hợp với thể tạng và đặc tính dân tộc; đặc biệt là họ dạy theo những chiêu thức và ngôn ngữ riêng; đôi khi phải chào quốc kỳ của nước sáng lập. 

Ngoài ra, mỗi môn võ đều có bài bản và nghệ thuật thuật phù hợp với tầm vóc và thể lực riêng.  Thí dụ dân du mục, có đôi chân dẻo dai như người Mông Cổ thì phù hợp với môn đô vật; người Phù Tang thấp nhỏ thì lợi dụng sự nhanh nhẹ trong nhu thuật của Judo để thắng cương; người Tây Phương cao lớn và khỏe mạnh thì tận dụng những cú đấm thần tốc của quyền Anh (boxing)...

Tôi nhớ có lần tiếp chuyện với anh Trần Hữu Khoa ở trước văn phòng Nha Cán Bộ của Đại Tá Nguyễn Tài Lâm, thì anh nhận định rằng người Việt có tầm vóc thấp bé mà giao đấu boxing với những người to lớn như Tây Phương hoặc Châu Phi thì chắc chắn sẽ bị hạ, vì khi tay mình với  chưa chạm tới đối thủ thì tay cửa họ đã đấm dẹp mũi của mình!

Đương đầu với người Tàu cũng vậy, khi thấy họ vung tay, múa chân theo Thái Cực quyền và Thiếu Lâm quyền, ta cũng phải e dè, ngại ngùng, vì không biết họ còn có những chiêu thức nào mà mình chưa học được chăng.

Ngày xưa Vua Quang Trung đã làm khiếp vía quân Thanh là nhờ quân ta tự hào là có môn võ cổ truyền mà sau này được gọi là “võ Bình Định” như câu ca dao:  Ai về Bình Định mà coi, con gái Bình Định múa roi, đi quyền.

Vovinam, do võ sư Nguyễn Lộc sáng lập vào năm 1938, được phát triển dựa trên môn vật cổ truyền Việt Nam, kết hợp với những tinh hoa của các môn phái võ thuật trên khắp thế giới. Dựa trên nguyên lý lưỡng cực “âm-dương” và “cương-nhu” qua mầu đỏ và mầu xanh dương, môn sinh Vovinam được tập luyện cả quyền cước, đô vật, tay không và vũ khí các loại như côn, kiếm…

Mỗi môn sinh hồng đai phải làm luận án về võ thuật với mục tiêu phát triển môn võ ngày càng phổ cập và phong phú hơn; nhờ thế, Vovinam mỗi ngày một tiến bộ và mở mang thêm, sáng tạo thêm những chiêu thức mới và sử dụng những vũ khí quen thuộc như cào, cuốc, quạt, gậy ông già....Bay lên kẹp cổ địch thủ cũng là một trong những tuyệt chiêu của Vovinam mà chúng ta không thấy ở những môn võ khác.

Ngoài ra, Vovinam là môn võ đầu tiên của Việt Nam được tập luyện có bài bản và chiêu thức đồng nhất; chứ không như trước kia, học võ thường được truyền thụ có tính cách gia đình và cá nhân, nhiều khi bố mẹ phải “tầm sư” cho con cái học võ, đó là chưa kể đến việc “cúng” heo hoặc gà cho “sư phụ”, rồi lâu lâu sư phụ mới truyền cho một…  “bí kíp”.

Có lẽ vì thấy môn võ này được tập luyện giống như quân trường, và vì thấy “10 Điều Tâm Niệm” của Vovinam phù hợp với đường lối XDNT trong việc chống lại kẻ thù và bảo vệ dân chúng nông thôn, nên vào đầu thập niên 1970, Đại Tá Nguyễn Tài Lâm đã cử Trung Úy Võ Thành Nhựt, Trưởng Ban Huấn Luyện, Sở Tâm Chiến, đến võ đường Hoa Lư tiếp xúc với Võ Sư Trần Huy Phong để xúc tiến việc huấn luyện Vovinam cho CB/XDNT.

Trong lời tâm tình mới đây cho Võ Sư Nguyễn Văn Đông nhân dịp Võ Sư Lê Công Danh từ Úc Châu sang thăm Hoa Kỳ, Niên Trưởng Nguyễn Tài Lâm viết rằng:
Anh Đông thân mến,
Nhờ anh chuyển lời thăm hỏi của tôi đến anh Lê Công Danh từ Úc tới dự Đại hội. Chúc Đại hội Vovinam thành công tốt đẹp. Giáo sư Phong và võ sư Danh là những người đã giúp đỡ rất đáng kể cho anh em CBXDNT trong lúc tinh thần họ bị dao động nhiều nhất.
Chúc anh Đông vui mạnh.
Thân ái,
Nguyễn tài Lâm.

Đúng vậy, trong lúc tinh thần CB/XDNT “giao động” thì theo yêu cầu của Đại Tá Lâm, Võ Sư Trần Huy Phong liền điều động 4 cao đồ từ Võ Đường Hoa Lư là quý anh Lê Công Danh, Nguyễn Gia Đức, Nguyễn Văn Đông và Vũ Kim Trọng đến Tổng Bộ Phát Triển Nông Thôn (Hậu thân của XDNT) để huấn luyện võ thuật cho CB/XDNT từ 46 tỉnh đoàn gởi về.

Do hầu hết cán bộ được cử về đều có căn bản và khả năng võ thuật, nên sau mỗi khóa học kéo dài khoảng 3 tháng, họ tiếp thu võ học nhanh chóng và có hiệu quả.   Khi mãn khóa những cán bộ nòng cốt này này trở thành những huấn luyện viên Vovinam tại các tỉnh lỵ cho các cán bộ tại tỉnh đoàn, rồi những cán bô này trở thành những huấn luyện viên Vovinam tại các xã, đặc biệt là tại các trưởng tiểu học trong xã ấp, nơi mỗi buổi chiều, trước khi tan học, đều có giờ sinh hoạt và tập thể duc.

Ngoài việc dạy ca hát, CB/XDNT đã trở thành HLV Vovinam cho học trò trên toàn quốc.

Năm 1973, trên đường đế Kiến Phong, tôi thấy khoảng 300 em nhỏ mặc đồ đen tập Vovinam dưới thửa ruộng khô đằng sau một ngôi trường nằm bên tỉnh lộ, tôi cảm thấy một niềm vui lâng lâng và tự hào mình là CB/XDNT.

Khi công tác về  xã thôn, nơi nào tôi cũng thấy các em nhỏ rất hăng hái trong giờ học Vovinam và thích mặc bộ bà ba đen với phù hiệu Vovinam; và khi nhìn thấy khung cảnh này, chúng ta có thể đánh giá  được đây là  khu vục an toàn.

Tính đến năm 1973, CB/XDNT đã giới thiệu Vovinam cho khoảng nửa triệu võ sinh tại các vùng nông thôn trên toàn quốc; và theo đà này, nếu không vì biến cố 30 tháng Tư 75, Vovinam có lẽ đã trở thành môn võ phổ cập của mọi người Việt Nam.

San Jose ngày 15 tháng 8, 2016
CB Trần Văn Khánh.