Showing posts with label -Made In Vietnam. Show all posts
Showing posts with label -Made In Vietnam. Show all posts

Friday, May 15, 2020

TIẾNG VIỆT VAY MƯỢN

ĐẶC THẦN CỦA TIẾNG VIỆT
Theo các nhà ngữ học thì tiếng Mỹ là thứ tiếng nói vay mượn rất nhiều từ ngữ của các tiếng khác trên khắp thế giới, vì vậy mà nó rất dồi dào và sống động, nó là tiếng nói số một của loài người hiện nay

Theo tôi thì tiếng Việt cũng không thua kém chi.

Nó đang đứng thứ 12 về số đông người nói [83 triệu] và đang lan ra khắp thế giới tự do từ cái biến cố 1975.

Nó có một nguồn gốc rất là đa dạng vì qua 2,3 ngàn năm nó đã mượn rất nhiều tiếng Tàu mà xài, rồi gần đây lại còn mượn hàng trăm tiếng một của Pháp mà nói, bây giờ đã trở thành tiếng Việt rồi, thí dụ như béret, kaki, kilo, gara, accu, v.v… Các bạn có thể kể ra vài trăm tiếng như thế

Hiện nay tiếng Việt lại còn đang dùng rất nhiều tiếng Anh Pháp Mỹ vay mượn như computer, battery, charge, v,v,, mượn như thế sau này một thời gian sẽ Việt hoá và trở thành tiếng Việt luôn.

Đó là một điều hay, rất hay, tiếng Việt dồi dào thêm, có thêm nhiều cách nói, nhiều ngữ vựng, nhiều cách phô bày tư tưởng.

 
Nhưng ta nên để ý rằng dù có nói bao nhiêu thứ tiếng khác nhau đi nữa, ta cũng chỉ có một thứ chữ abc hiện nay để viết, ta không còn viết chữ Nôm nữa, ta không còn viết chữ Tàu nữa, ta không còn biết chữ khoa đẩu là chữ gì nữa, và sẽ không bao giờ.

Như trong câu nói sau đây: cho xe vô gara, rồi check giùm cái bình điện, nếu hết charge  thì câu điện giùm, vô nhà coi công to [compteur] tháng này tiền nước bao nhiêu.  Có đến 6 ngôn ngữ khác nhau của cả thế giới trong câu nói ngắn đó mà ta không ngờ ! [Việt, Tàu, Pháp, Anh, Mỹ]

Một chuyện lạ hơn nữa là, cách đây mấy ngàn năm, ngoài tiếng Tàu ra, ông bà ta còn dùng và xài không biết bao nhiêu là tiếng nước ngoài ở Đông nam Á châu mà ta cứ tưởng đâu là tiếng Việt của ta, không ngờ đó là tiếng nói của biết bao ngôn ngữ láng giềng, mà lại không phải là tiếng Tàu.

Thí dụ ta nói tha thiết thiết tha  đó là tiếng Thái
vắng vẻ, đó cũng là tiếng Thái luôn
đủng đỉnh, vâng, cũng là tiếng Thái !
vơ vẩn vẩn vơ, đó là tiếng Lào đó bạn ơi
chân tay, chân mây, nó là tiếng Khmer đó
một ngày, một hai ba bốn năm, đó cũng là tiếng Miên luôn !

Cụ Nguyễn gia Thiều cách đây gần 200 năm đã viết:
"Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán"
[đành hanh là tiếng gốc Chàm đó bạn ơi, có nghĩa là ganh ghét, ganh tị]

Cụ Nguyễn Trãi cách đây gần 600 năm nói:
Tuy rằng bốn bể cũng anh tam,
[Đó là tiếng Mã lai hiện nay đó bạn ơi, có nghĩa là thằng em trai]

Hay là: Hai chữ công danh tiếng vả vê
Đó là tiếng Lào xưa đó, vả vê có nghĩa là trống vắng, mà bây giờ người Việt không còn ai nói nữa
Người Việt  nói cái  dùi cui hay đùi cui thì 250 triệu người Indonesia và Malay cũng nói là đulkul… y hệt!
Hai tiếng Nôm na mà ai cũng cho là Nôm là Nam, vậy thì  na là gì ? mọi người đều lờ đi !

Thật ra, Nôm và na  đều có nghĩa gốc là xưa, cũ, lâu đời… đã có từ lâu.

[Các tiếng Lào Thái Khmer đều có ghi hai tiếng "nôm na" và đều giải thích như vậy]

Tiếng Nôm là tiếng nói xưa của người nước ta, đã nói như vậy từ lâu, truớc khi ông bà ta gặp người Tàu.

Còn nhiều nữa, rất nhiều nữa, cả thảy 27 ngàn 400 tiếng Việt như vậy, ta đã cùng nói cùng xài chung, dùng chung, của không biết bao nhiêu là ngôn ngữ anh em chung quanh ta, đến nỗi là không có một tiếng Việt nào mà lại không có chung đồng nguyên [gốc gác] với một vài ngôn ngữ khá cỡ miền Đông nam Á này

Các tiếng nói Đông nam Á [Khmer, Lào, Thái, Chàm, Malay, Indonesia, Nùng, Hmong Bahnar, Rhade, v.v... bao bọc tiếng Việt trong một vòng dây thân ái của tình anh em ngôn ngữ chung giòng chung họ hàng mà chúng ta không ngờ đến đó thôi.

 
Nhưng tiếng Việt có một điểm rất lạ, dễ thì dễ mà khó cũng thật là khó, vì  ta tưởng là ta viết đuợc tiếng Việt là ta hiểu được tiếng Việt...

Thật ra ta không hiểu tiếng mẹ đẻ của chúng ta nó ra làm sao cả:
- ta nói đau đớn mà ta không hiểu đớn là gì, [đớn là tiếng Mon có nghĩa là đau cái đau của lòng mình]

- ta nói rộn rịp mà không hiểu rịp là gì,  [rịp là bận việc], gốc tiếng Lào Thái đó bạn ơi
- ta nói săn sóc, chăm sóc mà ta chẳng hiểu săn là gì mà sóc là gì.  Săn là  theo dõi, sóc là  sức khoẻ # health [gốc Sanskrit / Pali đó]

Có cả thảy chừng 10 ngàn tiếng Việt gốc gác như thế !

Thành thử dù cho ta có biết viết chữ Nôm, hay chữ Tàu đi nữa, ta vẫn không thể nào bíết ý nghĩa của mỗi từ ngữ trong tiếng Việt của ta đâu!

Biết thêm vài ba ngàn  tiếng Pháp, tiếng Anh, chữ Tàu chữ Nôm thì cũng tốt thôi, ta sẽ trở thành một thứ học giả "bất đắc dĩ", nhưng đừng tưởng rằng như vậy là đã hiểu thông suốt tiếng Việt.

Cái này đòi hỏi phải có một trình độ và khả năng hiểu biết ý nghĩa nguồn gốc của mỗi chữ mỗi âm, mỗi từ trong tiếng Việt  mà con số lên đến gần 10 ngàn tiếng đơn như vậy.

 
Chỉ có một cách qua được cái khó khăn vuợt bực đó.
 
Đó là phải có một bộ từ điển nguồn gốc tiếng Việt, tham khảo khắp cả 58 thứ tiếng lớn nhỏ ở  nam Á châu, từ tiếng Thái Lào, Khmer, Miến, Malay, Indonesia cho đến những tiếng nói thiểu số với vài ba trăm ngàn người, tiếng Muờng, tiếng Nùng, tiếng Hmong, tiếng Chàm… Chúng nó đều có đóng góp âm thanh, giọng nói và ý nghĩa gốc gác,  hay làm nguồn cội ban đầu cho mọi từ, mọi ngữ trong tiếng  Việt.

Và đó là bộ Từ điển nguồn gốc tiếng Việt, sắp xuất bản mà chúng tôi xin phổ biến  truớc một ít từ ngữ nguồn gốc Việt để các bạn và quý vị xem cho vui.


BS Nguyễn Hy Vọng







Thursday, October 27, 2016

BIẾT HỎI AI



Xin BTC TW ĐCSVN, cùng các đảng viên đảng csvn, những người đã và đang cho đường lối xhcn Việt Nam hiện nay là đúng đắn sáng suốt, tài tình. Thì trả lời giúp tôi các câu hỏi sau? Trên thông tin đại chúng được ko? Nếu trả lời được tôi xin làm khuyển mã cho người đó.
THẮC MẮC BIẾT HỎI AI?
Sinh ra trong thời bình, đã từng tự hào vể màu cờ sắc áo, đã từng yêu đảng, yêu bác. Nhưng càng trưởng thành, tôi càng đặt ra cho mình nhiều câu hỏi:

1.     Việt Nam có 9.000 giáo sư, 24.000 tiến sĩ nhưng không có bất kì bằng sáng chế nào. Vậy những giáo sư, tiến sĩ đó, họ làm gì?
2.     Giáo dục Việt Nam cải cách không ngừng, vậy tại sao 63% sinh viên thất nghiệp khi ra trường?
3.     Báo chí ca ngợi người Việt Nam thân thiện hiếu khách, vậy tại sao đa số du khách nước ngoài tuyên bố sẽ không quay trở lại Việt Nam lần thứ 2?
4.     Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận rằng chưa có nhận thức rõ, cụ thể và đầy đủ về thế nào là "Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", vậy rốt cuộc ai nghĩ ra mô hình này?
5.     Nhiệm vụ của báo chí truyền thông là nói lên sự thật hay là nói lên những điều có lợi cho đảng?
6.     Nhà nước nhận lương từ tiền thuế của dân để làm việc phục vụ nhân dân hay để cai trị nhân dân?
7.     Công an là lực lượng được thành lập để bảo vệ dân hay bảo vệ chế độ?
8.     Khẩu hiệu của quân đội là "trung với đảng", vậy sao khi hi sinh lại ghi trên bia mộ là "tổ quốc ghi công" chứ không phải "đảng ghi công"?
9.     Tại sao có "huân chương kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ" mà lại không có "huân chương kháng chiến chống Tầu"?
10. Đảng cử thì đảng bầu, tại sao đảng cử lại bắt dân bầu?
11. Chủ nghĩa xã hội là chế độ ưu việt, vậy tại sao nó sụp đổ tại Nga, nơi nó được sinh ra và tại sao chỉ còn vài quốc gia theo mô hình này?
12. Tư tưởng Mác-Lenin là tư tưởng khai sáng nhân loại, vậy tại sao tượng Lenin bị phá sập tại Nga và các nước đông Âu trong tiếng hò reo của nhân dân?
13. Hồ Chí Minh từng nói: "Không, tôi chẳng có tư tưởng gì ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê". Vậy giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh ở đâu ra? 
 TRẦN THỊ LAM

Thursday, July 28, 2016

KIỂU HUẾ


Anh 17
Trần Đức Anh Sơn
1. Tôi có quen một phụ nữ Huế, là chủ nhân một ngôi nhà vườn nổi tiếng ở đất thần kinh. Mỗi khi có dịp tiếp chuyện bà, tôi luôn bị cuốn hút bởi sự lịch lãm, nét quý phái tỏa ra từ thần thái của bà. Khi xuất hiện trước người khác, bà luôn chăm chút bản thân từng ly, từng tí, từ trang phục, kiểu tóc đến cử chỉ, ngôn từ. Cứ ngỡ, sự đài các, nét sang trọng kia do bà tạo ra là cốt để xứng hợp với vị thế hiện tại của bà. Nhưng không phải vậy! Nhiều người quen biết bà cho tôi hay: kể cả những lúc khốn khó nhất thì phong thái của bà cũng kiêu sa, đài các như mặc định. Sau ngày hòa bình, cả Huế đều lam lũ mưu sinh. Gia cảnh của bà cũng sa sút: bà phải ăn cơm độn, mặc áo cũ; phải cuốc xới mảnh vườn trong phủ đệ, vốn chỉ trồng hoa và cây kiểng, để trồng các loại rau quả góp thêm cho bữa ăn hàng ngày. Nhưng mỗi khi bước chân ra khỏi tòa phủ đệ thâm nghiêm ấy, bà đều ngồi xe xích lô, mặc những chiếc áo dài không một nếp nhăn, khoác chiếc phu-la mệnh phụ màu trắng. Người ta nói rằng bà nhất mực gìn giữ một phong cách sống riêng, mà họ gọi là kiểu Huế, cho dẫu vật đổi sao dời.


Kieuhue 01
Chân dung "Huế" (Ảnh: Trần Đức Anh Sơn)
Tôi cũng có quen một ông thầy người Huế, là giảng viên đại học hồi hưu. Thầy sống nhàn nhã và thong dong trong một ngôi nhà rường xưa ở gần chợ Cống. Thông thạo Hán văn, rành rọt Pháp văn, lưu loát Nhật ngữ và Đức ngữ, am tường “thiên kinh, vạn quyển”, nhưng thầy không “cao đàm khoát luận” bao giờ. Mỗi sáng, thầy tự pha trà trong chiếc độc ẩm màu gan gà hiệu đề Thế Đức; tự thưởng trà trong chiếc chén “mắt trâu – lật đật” vẽ tích Tô Vũ mục dương ký kiểu đời vua Tự Đức. Đoạn, thầy dịch thơ haiku, nghiền ngẫm Osho và tiếp dưỡng cho bản thân bằng hai bữa cơm chay mỗi ngày. Với vốn ngoại ngữ tinh thông và tri thức am tường, lẽ ra, thầy phải là giảng viên thỉnh giảng “đắt sô” cho các trường đại học ở Huế như các vị giáo chức hồi hưu khác vẫn làm. Nhưng thầy lại chọn cho mình một lối sống thanh khiết, bình dị. Nhiều người am hiểu cũng nói với tôi: “Thầy sống theo kiểu Huế”!


Kieuhue 02
Nhà một lãng tử Huế Ảnh: Trần Đức Anh Sơn
2. Cách đây hơn hai chục năm, tôi theo một người bạn về thăm quê của anh ở ven phá Tam Giang. Ngôi làng nhỏ như một ốc đảo lọt thỏm trong cồn cát trắng đến nao lòng, phía đông là biển xanh bao bọc, phía tây là vùng đầm phá mênh mông ôm ấp. Làng ở sát biển nhưng dân làng chủ yếu sống về nghề nông và nghề nấu rượu. Sống trong vùng cát nóng bỏng nên mọi thứ cây trồng: từ các loại hoa màu như: thuốc lá, khoai lang, đậu phụng, thậm chí cả lúa, cho đến các loại cây một như bạch đàn, dương liễu… cũng đều phải được tưới nước hàng ngày. Từ ba giờ sáng, người làng đã ra đồng, mỗi người một đôi thùng trên vai, gánh nước từ các giếng khơi đào trong lòng cát để tưới cây. Đến khi mặt trời lên đến ngọn tre thì mỗi người cũng đã gánh được hơn trăm đôi nước tưới.
Lần đó, bạn mời tôi về nhà ăn kỵ. Nhà bạn nghèo nhưng mâm cỗ cúng hôm đó rất tươm tất, ước chừng 10 món khác nhau. Tất cả được bày biện tinh tươm trong những chiếc tô, dĩa, chén làm bằng sứ trắng vẽ lam, mà người Huế vẫn gọi là đồ kiểu. Tôi hỏi nhỏ anh bạn: “Những thứ này mượn ở mô rứa?”. Bạn nói: “Đồ gia bảo, chỉ khi kỵ giỗ hay tết nhứt mới đem ra dùng”. Tôi lại hỏi: “Nghe nói đồ xưa được giá lắm, sao nhà anh không bán bớt để có tiền lo việc khác? Còn cúng giỗ thì mình dùng chén dĩa đời nay cũng được”. Bạn tôi mắng: “Tầm bậy. Đã là đồ gia bảo thì có chết đói cũng không được bán. Nhà mình vay mượn để lo kỵ bữa ni. Đến mùa thu hoạch sẽ trả nợ, dứt khoát không bán đồ gia bảo”. Trong lễ cúng, tôi thấy cha của bạn dâng rượu cúng đến ba lần, bèn thắc mắc: “Sao phải dâng rượu cúng đến ba lần, thường thì chỉ dâng một lần rượu khi vào lễ và một lần trà khi kết thúc thôi chứ?”. Lễ xong, cha của bạn giải thích: “Trong lễ cúng của người Huế mình, phải dâng đủ ba tuần rượu, gọi là là sơ hiến lễ (dâng rượu lần đầu), á hiến lễ (dâng rượu lần hai) và chung hiến lễ (dâng rượu lần cuối). Sau cùng mới hiến trà (dâng trà)”. Tôi vẫn cố: “Nhưng mà mình cúng ở nhà chứ có cúng đình, cúng họ mô mà phải nhiêu khê như rứa. Cỗ bàn e nguội cả”. Ông mắng tôi: “Không được, cúng mô cũng là cúng, phải đúng bài bản. Xưa bày nay làm, không giản lược được mô”.


mam-com-tet-3-mien-mytour-7
Mâm cỗ "Huế"
Sau này ra trường, tôi vào làm việc ở quần thể di tích cố đô Huế. Thi thoảng, tôi được mời dự khán các cuộc lễ, kỵ do Nguyễn Phước tộc tổ chức trong Triệu Miếu hay Thế Miếu. Mỗi khi nghe vị chấp lệnh hô: “hành sơ hiến lễ”, “hành á hiến lễ”, “hành chung hiến lễ”, “hiến trà”…, tôi lại chợt nhớ hình ảnh người cha của anh bạn năm xưa, áo dài khăn đóng, thành kính dâng ba tuần rượu và một tuần trà lên bàn thờ tiên tổ. Rồi thầm nghĩ: “Đó cũng là một kiểu Huế”.
3. Trong Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế có hai bộ uống rượu rất đặc sắc. Một bộ làm bằng bạc, chạm trổ tinh xảo, công phu, niên đại vào đời Tự Đức (1848 – 1883). Bộ kia làm bằng ngà voi, kiểu dáng cầu kỳ, chế tác vào đời Đồng Khánh (1885 – 1888). Sử sách triều Nguyễn cho biết: hàng năm, triều đình cấp tiền cho quan binh các tỉnh tìm mua gạo nếp và gạo tám tốt từ các địa phương, giao cho Quang Lộc Tự, tùy chất lượng từng hạng rượu thành phẩm cần tiến, mà cấp phát cho các hộ nấu rượu chuyên nghiệp ở phủ Thừa Thiên nấu rượu tiến cung. Loại rượu ngon nhất được nhập vào Quang Lộc Tự, đến ngày khai niên, được chiết vào những chiếc bình làm bằng bạc, để dâng cúng ở các miếu thờ tiên đế trong Hoàng Thành. Bộ bình và chén rượu bằng bạc niên đại Tự Đức đề cập trên đây là một trong những bộ đồ dâng rượu cúng trong các miếu mà Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế còn giữ được. Ngoài rượu gạo, triều đình còn trưng nạp và sử dụng nhiều loại rượu khác phục vụ sở thích và bồi bổ sức khỏe cho các vị vua quan, trong đó có rượu dâu từ tỉnh Quảng Bình. Rượu dâu được tiến nạp vào cung để phục vụ lễ tế hưởng. Sau lễ, số rượu dâu còn lại được nhập vào kho trong hoàng cung để vua dùng quanh năm và để ban thưởng cho những người có công. Vua Đồng Khánh (1885 – 1889) không chỉ ban thưởng rượu dâu, mà còn sai Sở Nội Tạo chế tác một bộ bình và chén làm bằng ngà voi, trên thân khắc bốn chữ Hán: Đồng Khánh sắc tứ, đặt trong một chiếc giá hình lồng đèn sơn son thếp vàng, để ban thưởng cho một trọng thần. Bộ đồ uống rượu này thật tiện lợi cho những chuyến du ngoạn: mỗi khi đi đâu, chỉ cần rót rượu đầy bình, treo chén vào các lá cửa của chiếc lồng đèn rồi đóng lại, giao cho gia nhân thủ giữ. Lúc cần thưởng rượu, chỉ kéo cần gạt phía dưới lồng đèn, những cánh cửa mở ra, mang chén ngà đến cho tửu khách chiết tửu. Quả là thú vị vô cùng.
Kieuhue 03
Bộ đồ rượu của vua Đồng Khánh

Bộ đồ uống rượu kiểu cách của vua Đồng Khánh. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn
Kieuhue 04
Khay ăn "Huế" (ảnh Đào Hoa Nữ)
Huế là xứ sở của các loại bánh, mứt. Vì thế, trong cung luôn sẵn có những quả hộp đựng mứt làm bằng sứ ký kiểu hay bằng pháp lam. Trong điện Long An có bày một bộ khay đựng mứt do Pháp lam tượng cục của triều Nguyễn làm vào đời vua Thiệu Trị (1841 – 1847). Đó là bộ khay gồm 9 ngăn, đặt trong chiếc hộp gỗ sơn son vẽ rồng. Mỗi ngăn dùng đựng một món mứt, và mứt gừng là thứ không bao giờ vắng trong quả mứt Tết của người Huế, dù ở trong cung hay ngoài thôn dã. Ngoài ra, còn có bộ khay pháp lam khác, không phải để đựng mứt mà dùng để ăn món gỏi. Tôi nhớ lần ở Seoul cách nay 10 năm, cô bạn Kang Soyoung mời tôi đi ăn món kuyolp’an, là món gỏi gồm 9 thứ khác nhau (chữ ku tiếng Hàn nghĩa là số 9). Người Hàn bày món này trong bộ khay sứ có 9 ngăn. Chính giữa là ngăn đựng những lát củ cải cắt mỏng. Các ngăn xung quanh gồm: lòng trắng trứng, lòng đỏ trứng gà, nấm hương, thịt bò xào với mè, cà rốt, dưa leo, ớt xanh xào với tôm bóc vỏ và củ cải trắng. Tất cả đều được thái chỉ và dọn riêng mỗi thứ một ngăn. Khi ăn, thực khách gắp mỗi thứ một tí, bỏ vào trong lát củ cải cắt mỏng như tờ giấy, cuốn lại, rồi chấm với xì dầu và dầu mè có trộn sẵn muối tiêu. Ngon tuyệt trần. Kang Soyoung giải thích: “Món này ngày xưa người Triều Tiên chỉ được thưởng thức trong dịp Tết hoặc trong các dịp lễ trọng vì chế biến rất cầu kỳ và tốn kém. Bộ khay dùng để đựng món ăn này làm bằng ch’onghua paekch’a, là loại đồ sứ trắng vẽ men lam Hồi cao cấp, nên cũng rất đắt tiền”. Tôi bảo với Soyoung: “Ở Huế của tôi cũng có món ăn tương tự như món kuyolp’an của người Triều Tiên, gọi là món gỏi thập cẩm. Thức ăn cũng đựng trong những chiếc khay nhiều ngăn làm bằng sứ hay bằng pháp lam, tất cả đặt trong một chiếc hộp sơn mài vẽ rồng phượng rất đẹp. Món ấy, người Huế cũng chỉ dùng trong các dịp trọng đại”. Soyoung cười: “Vậy thì văn hóa ẩm thực của người Triều Tiên và người Huế cũng có nét tương đồng đấy nhỉ?”. Hình như là thế.


Người Huế sống, ăn, mặc và ứng xử theo một kiểu thức riêng. Ai không hiểu sẽ cho là người Huế cầu kỳ, kiểu cách. Còn ai hiểu người Huế, biết về văn hóa Huế, sẽ nói: “Kiểu Huế là rứa. Có chi mà thắc mắc”.
T.Đ.A.S.

Thursday, July 14, 2016

VÀO BIÊN CHẾ


Nghe tin một ngôi trường khá nổi trên huyện đang cần tuyển giáo viên, tôi lập tức tới ứng tuyển. Bà hiệu trưởng thấy tôi ôm cái hồ sơ xin việc lò dò đi vào thì mỉm cười rất thân thiện, xong chỉ chỉ tay xuống ghế, ý bảo tôi ngồi đợi, rồi bà lại tiếp tục cặm cụi, chăm chú làm việc bên cái máy tính...
 
Tôi vui vẻ ngồi đợi mà không hề cảm thấy khó chịu, bởi người ta là hiệu trưởng một ngôi trường lớn với cả ngàn học sinh, đương nhiên là phải bận bịu với cả núi công việc ngập đầu, người ta chịu bỏ thời gian ra tiếp mình là tốt rồi, nên dù phải chờ cả buổi tôi cũng vẫn vui!
 
Sau một hồi hì hục với cái máy tính, tôi thấy bà hiệu trưởng bốc điện thoại gọi cho ai đó, giọng cau có: "Tao chọn hàng xong rồi đấy: hai sơ-lít lọt khe, một coóc-xê trong suốt. Liệu mà ship hàng sớm cho tao để chiều mai tao còn đi Đồ Sơn tắm biển! Mà chúng mày làm ăn cho tử tế vào, lần trước tao mua cái váy, chúng mày quảng cáo là mặc vào xinh như Ngọc Trinh, mà tao mặc vào trông như con thần kinh. Rồi cả cái bộ đồ bơi, chúng mày bảo là mốt mới, theo phong cách nàng tiên cá, mà tao mặc vào nhìn như vua thủy tề đang ngáo đá..."
 
Gác điện thoại xuống, bà hiệu trưởng mới thò cổ ra, gọi chị lao công đang quét dọn ngoài hành lang vào và bảo chị ấy đi lấy nước pha trà mời khách. Tôi lúc ấy mới lễ phép chào hỏi, giới thiệu một số thông tin về tôi, rồi bày tỏ nguyện vọng muốn được xin vào làm giáo viên dạy trong trường. Bà hiệu trưởng xem qua hồ sơ của tôi thì vừa gật gù, vừa chầm chậm cất lời:
 
- Cháu nộp hồ sơ đúng lúc lắm! Cô vừa đuổi việc vài đứa giáo viên hợp đồng, nên cần tuyển thêm giáo viên mới để thay thế! Với cả, cô cũng đang có một suất vào biên chế, nếu cháu muốn, cô sẽ giữ cho!
- Dạ... Cháu mới ra trường, chỉ ước ao được đứng trên bục giảng, được mang những gì mình đã học ở trường mà truyền dạy lại cho các em học sinh thân yêu, trang bị cho các em kiến thức để mai sau các em vững bước vào đời, trở thành người có ích cho xã hội, vậy là cháu hạnh phúc lắm rồi, chứ biên chế hay hợp đồng thì cháu thấy cũng không quan trọng lắm ạ!
Bà hiệu trưởng nghe vậy thì cười ha hả, rồi đứng dậy vẫy vẫy tay, ý muốn bảo tôi đi theo bà ấy...
Lúc đi qua chỗ hành lang, thấy chị lao công đang chổng mông lau cầu thang - chính là cái chị vừa lấy nước pha trà hồi nãy - bà hiệu trưởng nhắc nhở ngay: "Lau xong ban công thì qua dọn phòng vệ sinh luôn đi rồi còn lên lớp, kẻo muộn giờ thì lại chạy cong đít!". Rồi bà quay sang tôi, nói như giải thích:
- Chị này hiện là giáo viên hợp đồng của trường, nhưng lương thấp quá, không đủ sống, nên xin kiêm luôn chân lao công để kiếm thêm. Chị này tốt nghiệp loại giỏi, dạy cũng tốt, nhưng đạo đức nghề nghiệp rất kém: ai lại dọn phòng vệ sinh nam mà cứ nhè lúc ra chơi giữa giờ, là lúc cao điểm các thầy đi đái để vào dọn, rõ ràng là có ý lợi dụng việc công để thỏa mãn ham muốn biến thái của bản thân! Đợi thuê được người dọn vệ sinh khác là cô sẽ đuổi việc chị ta ngay!
- Sao cô đuổi nhiều thế? Mới hôm trước cô vừa đuổi vài người rồi mà!
- Thì cũng vì mục đích nâng cao chất lượng giảng dạy và giữ gìn hình ảnh cao quý của người giáo viên thôi. Ví như cái thằng dạy hợp đồng môn Toán ấy, nó bị hở van hậu môn, đánh rắm thối um, bum bủm cả buổi, dù nó giảng hay nhưng học sinh cũng không ghi được bài, vì tay còn mải đưa lên bịt mũi. Rồi cái con bé dạy hợp đồng môn Sinh cũng vậy, nó bị ỉa chảy kinh niên, mỗi tiết học bình quân nó phải đi ỉa năm bảy lần. Tính ra, tiết học có 45 phút thì nó chỉ dạy được khoảng 15 phút, thời gian còn lại là nó dùng để đi ỉa. Nếu không đuổi việc nó thì có khác gì mình thuê nó về trường, trả lương cho nó đi ỉa?
Cuộc trò chuyện của tôi và bà hiệu trưởng bị cắt ngang bởi một chị gái tướng rất đầu gấu, xách chiếc cặp da nâu, mặc bộ áo dài ren xuyên thấu để lộ nội y màu đỏ dưa hấu đang đi tới từ đằng sau. Khi nghe bà hiệu trưởng giới thiệu sơ qua về tôi, chị gái áo đỏ ấy cười tươi, giọng hồ hởi: "Ào em, ị à áo iên ăn", xong, chị ta đi thẳng vào lớp, còn tôi hoang mang quay sang hỏi bà hiệu trưởng:
- Chị ấy nói cái gì mà ị xong rồi ăn vậy cô?
- À! Nó nói là: "Chào em, chị là giáo viên Văn". Con này trước đây nói năng bình thường, nhưng từ khi chồng nó bị cái bệnh lậu hay giang mai gì đó làm lây sang nó, thì nó bị vi khuẩn ăn cụt mất một phần lưỡi, giờ mới ngọng như thế!
- Giáo viên Văn mà bị vậy thì giảng bài thế nào được? Sao cô không đuổi việc?
- Đuổi sao được! Nó vào biên chế rồi mà! Kể cả giờ nó có cụt hết cả lưỡi thì cũng chả dám đuổi!
Đi thêm đoạn nữa, tôi bỗng thấy một anh nằm lăn trên nền đất giãy đành đạch, như thể vừa bị ai đó đánh. Đứng ngay gần đó là một đám học sinh tàn nhẫn, vô tâm, lạnh lùng trố mắt lên nhìn. Tôi liền hô to: "Gọi cấp cứu cô ơi! Có người gặp nạn kìa!". Bà hiệu trưởng nghe vậy thì cười, bảo: "Cấp cứu gì đâu! Thằng đó là giáo viên thể dục, đợt trước nó nhảy vào vườn nhà người ta rình trộm gái tắm, bị đuổi đánh cho què chân, giờ đứng không được, phải ngồi xe lăn. Nó đang hướng dẫn kỹ thuật nhảy xa cho học sinh, nhưng ngồi trên xe lăn mà hướng dẫn thì học sinh không hiểu, nên mới phải nằm ra đất!
- Thế sao không cho anh ấy nghỉ việc ạ?
- Nghỉ sao được! Nó vào biên chế rồi mà! Nếu nghỉ thì chỉ chờ già rồi nghỉ hưu thôi, chứ chả ai dám cho nghỉ việc!
Rồi tôi lại nghe tiếng kêu "a... a... ư... ư..." phát ra từ một lớp học ngay phía đầu hồi, hệt như ai đó đang mở phim sex. Hiểu được sự băn khoăn của tôi, bà hiệu trưởng lại nhanh nhảu giải thích ngay:
- Là con bé giáo viên dạy nhạc đó! Cách đây mấy tháng, nó đi ngủ quên đóng cửa, bị một thằng mất dạy lẻn vào hiếp dâm. Hôm sau, nó lại quên không đóng cửa, nhưng thằng mất dạy đó không thấy lẻn vào nữa. Rồi cả tuần liền sau đó nó ngủ đều quên không đóng cửa, mà cái thằng mất dạy đó vẫn không thèm quay lại, nó chờ đợi mòn mỏi, bức bối quá, thành ra tinh thần ức chế rồi phát điên. Sau khi đi điều trị ở bệnh viện tâm thần về, nó tiếp tục đi dạy, nhưng thần kinh vẫn chưa hoàn toàn ổn định, bởi vậy bây giờ, thỉnh thoảng, nó vẫn như bị ảo giác, tưởng rằng mình đang được cái thằng mất dạy đó hiếp dâm, nên cứ rên "ư... ư... a... a..." như thế!
Tôi nghe bà hiệu trưởng kể xong thì cất giọng ngập ngừng:
- Cháu... Cháu có thể hỏi cô một câu được không ạ?
- Lại định hỏi sao không đuổi việc hả? Đã bảo là không đuổi được! Nó vào biên chế rồi mà!
- Dạ không! Cháu chỉ định hỏi, nếu cháu muốn vào biên chế thì...
- Thì mất bao nhiêu tiền đúng không? Yên tâm, lát về phòng cô cho xem báo giá! Nó tùy theo môn mà! Ví như Văn, Toán, Ngoại ngữ là những môn quan trọng, dạy thêm được, thì giá sẽ cao. Còn những môn phụ, ít quan trọng hơn, thì giá sẽ thấp hơn!
- Dạ! Thế môn nào là thấp nhất ạ?
- Thấp nhất bây giờ là môn Giáo dục Công dân, tức là môn Đạo đức ấy! Đạo đức bây giờ xuống giá lắm cháu!
Tôi nghe xong thì mặt lộ vẻ bần thần. Bà hiệu trưởng tức thì đoán ra ngay điều gì đang khiến tôi băn khoăn, nên bà ngọt giọng trấn an: "Đang lo không biết xoay tiền ở đâu ra đúng không? Yên tâm đi! Cô có đứa cháu làm bên ngân hàng. Nếu cháu vay mua nhà, mua xe, hay mở công ty thì nó mới xét hồ sơ chặt chẽ, vì sợ rủi ro cao, chứ mà vay để xin vào biên chế thì hồ sơ đơn giản lắm, vài phút là ký duyệt xong, gọn nhẹ vô cùng. Rồi vài ba năm sau là cháu trả xong cả vốn lẫn lời, và dù có bị đánh què chân, bị hiếp dâm, bị thần kinh thì cũng chả phải sợ gì, cứ yên tâm, an phận mà thảnh thơi, hưởng thụ đến cuối đời...
Vay ngân hàng thì tôi sợ, không dám thật rồi! Đành về bảo bố mẹ bán lợn, bán chó, bán bò, rồi thiếu bao nhiêu thì hỏi mượn các bà, các cô vậy. Chỉ tiếc công bao năm phấn đấu học hành mới được cái bằng giỏi, để rồi, tôi không thể nhờ tấm bằng ấy, mà lại phải nhờ lũ lợn, lũ chó, lũ bò mới được vào biên chế!

Thursday, June 23, 2016

CON TIN TRONG CHÙA

  image
Hũ hài cốt là con tin trong chùa. Đúng hay sai ? nên hay không nên ?
Những người Việt sinh sống ở hải ngoại, đối với những gia đình đã ổn định đời sống, khi có người thân qua đời nếu chọn chôn cất tại các nghĩa trang với những thảm cỏ xanh, hoa nở tươi tốt, để người thân đến thăm viếng trong những dịp lễ New Year, Father’s Day, Mother’s Day, Vu Lan, Tết Nguyên Đán, cũng rất là hay và đẹp.
 
Cho nên, với câu hỏi là nên chôn (địa táng) hay thiêu (hỏa táng) cha mẹ khi qua đời thì câu trả lời là điều đó còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố, nhất là quan niệm cá nhân về sự sống và chết của con người. Phật Giáo không chủ trương hỏa táng cũng như địa táng. Vì thế việc chọn lựa này là do quyết định của người qua đời, lúc còn sống đã để lại di chúc. Nếu không thì người thân trong gia đình nên bàn thảo để có quyết định chung, tránh sự tranh cãi. Dù thiêu hay chôn thì thân xác của người chết không còn cảm giác nóng hay lạnh. Khi tứ đại tan rã, hệ thần kinh ngừng hoạt động, thần thức đã ra khỏi thân xác để đi tái sanh sang cõi khác. Những trò hề hộ niệm được vãng sanh hiện nay cũng khá phổ biến, bởi do con người không hiểu rõ chánh pháp, dễ bị gạt gẫm. Sau khi hỏa thiêu, thân xác người chết không còn là gì nữa. Vấn đề được đặt ra là có nên chôn tro cốt xuống đất, hoặc gìn giữ để thờ cúng tại nhà, tại chùa, hay đem rải xuống sông biển.
 
image
Đạo Phật dạy rằng xác thân chỉ là sự duyên hợp của vật chất, gọi là tứ đại, bao gồm: đất, nước, gió, lửa.Sau khi chết, những thứ này lại trở về với đất, nước, gió, lửa. Phần tro cốt còn lại chỉ là biểu tượng của người qua đời, là người thân mà con người thương yêu. Con người nên kính trọng, tuy nhiên, không nên quyến luyến quanh những biểu tượng này, không nên sống mãi với quá khứ.  Một số người thích thờ cúng tro cốt tại chùa hay tại nhà. Một số người khác lại đem chôn, hoặc đem tro cốt rải xuống biển, hay xuống sông, hay rải xuống rừng, hay một nơi nào đó theo ý muốn.
 
image
Con người ai ai cũng phải chết, và đi đầu thai qua kiếp khác, hoặc thiên đàng hay địa ngục, đều do nghiệp thiện hoặc nghiệp ác, con người đã làm ra khi sanh tiền. Chính con người quyết định kiếp sau đầu thai chốn nào, cõi nào, lành hay dữ, tịnh độ hay ác đạo, chứ không phải do thượng đế hay thần linh nào khác - cũng không do các ban hộ niệm cầu vãng sanh tào lao hiện nay rất nhiều. Con người quyết định đời sống kiếp này và kiếp sau bằng các hành động qua thân, khẩu, ý hàng ngày, hàng giờ, hàng phút trong cuộc sống hiện tại.
 
image
Là Phật tử chúng ta đừng nghĩ rằng để tro cốt ở những nơi thiêng liêng như chùa chiền, người quá vãng sẽ được an toàn, được nghe câu kinh tiếng kệ và không bị nghiệp lực lôi kéo. Khi còn sống, con người không chịu nghe kinh kệ, không chịu tu tâm dưỡng tánh, khi chết rồi, các hủ tro biết nghe, biết tu hay sao? Thiệt là nằm mơ khi còn trời sáng. Mấy nhà sư còn sống sờ sờ cũng vẫn bị nghiệp lực lôi kéo - nếu đạo lực không vững mạnh. Việc để tro cốt trong chùa không có ý nghĩa gì hơn là sự biểu lộ niềm kính trọng và thương yêu của người thân đối với người đã khuất. Chấm hết.
 

image
 
Hũ tro cốt là con tin trong các chùa:
Câu hỏi: Hiện nay, một số người giàu, có nhiều tiền, muốn báo hiếu cho thân nhân của mình, nên đến các chùa có diện tích đất rộng, bỏ tiền ra mua một miếng đất để xây một cái mồ, rồi đưa xác thân nhân về chôn cất ở đó, hoặc gửi tro vào tháp hài cốt trong chùa. Nhà chùa gặp cơ may này làm giàu, tính giá rất cao cho những người cần nhà chùa làm lễ cầu siêu độ cho các vong linh. Các người này họ rất hoan hỷ được đưa thân nhân về chùa “nằm trong đất chùa, được nghe kinh, được theo Phật”.
Kính thưa Thầy, ý nghĩa của việc làm nầy thật sự là thế nào đối với người quá vãng, với thân nhân của họ và đối với nhà chùa? Chúng con xin Thầy từ bi chỉ dạy cho chúng con được rõ.
 
Câu trả lời: Đó chỉ là tín ngưỡng trong dân gian, cho rằng người chết được chôn trong đất chùa hoặc gửi nắm tro tàn trong tháp hài cốt thì hằng ngày linh hồn sẽ được nghe kinh, nhờ đó được siêu thoát lên cõi Cực Lạc, Thiên Đàng. Khi còn sống con người theo tổn hữu ác đảng, tạo bao ác nghiệp. Lúc chết thì linh hồn người đó chịu theo Phật hay sao? Nếu con người thực sự muốn báo hiếu, trước hết nên tự mình tu tâm dưỡng tánh, sau đó nên lo lắng, chăm sóc, hướng dẫn việc tu hành cho cha mẹ, khi còn hiện diện trên trần gian này. Khi cha mẹ qua đời thì nên đem tài sản của cha mẹ bố thí, cứu người giúp đời và hồi hướng công đức và phước đức cho cha mẹ.
 
image
Do lòng thương yêu và sự hiếu hạnh - nhưng không học hiểu chánh pháp - khiến cho con người không còn sáng suốt, theo tà pháp, nên nghe quí thầy, quí cô trong chùa, bảo sao làm vậy chứ không có suy nghĩ chín chắn. Quí thầy quí cô này cũng ngu dốt, u mê, đời trước bảo sao, đời sau làm vậy, chẳng rõ chánh tà khác nhau ra sao. Các tăng ni không học hành dẫn dắt theo bao nhiêu người khác đọa lạc - tai hại vô cùng là chỗ này. Đầu tàu lạc đường, hay trật đường rầy, cả đoàn tàu không đến được mục tiêu mong muốn. Bởi vậy bọn trọc đầu đọa lạc dưới địa ngục nhiều hơn người có tóc, chính là nghĩa đó vậy.
 
Sự tin tưởng thiếu thực tế, không trí tuệ của một số người đã làm giàu cho các chùa và biến các chùa thành một nơi sinh hoạt mê tín chứ không còn là nơi chốn tu hànhcủa tăng ni và cư sĩ nữa. Chùa nào hiện giờ cũng xây tháp hài cốt, khi có thân nhân chết, người ta đem thiêu xác, gửi vào chùa. Khi gửi nắm tro tàn như vậy thì phải tốn bao nhiêu tiền đóng vào và còn phải cúng dường tiền cho chùa rất nhiều hằng năm. Nếu thân nhân không cúng dường tiền thì hũ hài cốt ấy sẽ bị dẹp vào chỗ khuất lấp. Còn ai cúng dường tiền nhiều thì hũ hài cốt sẽ được để trên chỗ sang trọng trong tháp. Nhiều chùa hiện giờ lấy hài cốt làm con tin, để làm tiền người thân một cách phi nhân nghĩa, thiếu đạo đức. Tháp hài cốt là núi tiền, các lễ trai đàn bạt độ mê tín là những mẫu ruộng mầu mỡ xài hoài không hết. Có nhiều thầy chùa cạo tóc có tiếng là đi tu, nhưng không học hiểu chánh pháp, không rành giáo lý, chỉ lo mua bằng thượng tọa, trèo lên hòa thượng, học tổ chức các lễ trai đàn bạt độ, các lễ vớt vong trên sông trên biển như vớt bèo, các lễ phóng sanh nhưng hại vật, các lễ rải tro trên sông cho người chết được giải thoát. Các loại lễ cúng này hét ra bạc, khạc ra vàng. Thiệt là các trò gạt gẫm của bọn giặc thầy chùa.
 
image
Ví dụ: Nhà chùa muốn làm một việc gì thì nhắm vào gia đình của những người, có gửi hài cốt, hoặc chôn cất người thân trong đất chùa. Họ kêu gọi những người nầy đóng góp làm từ thiện, hoặc xây cất chùa, hay bất cứ việc gì trong chùa cần. Nghe kinh được siêu thoát về Cực lạc, Thiên đàng đâu không thấy, mà chỉ thấy những người còn sống phải gánh một gánh nặng của tôn giáo mê tín.  Cho nên chùa nào có đất rộng làm nghĩa địa hoặc xây tháp hài cốt là chùa đó giàu to, giàu không mất sức lao động chút nào cả. Thầy chùa nào biết luyện giọng, biết làm lễ mang màu sắc linh thiêng huyền bí, bẻ tay giậm chân, mặc y áo như kép cải lương rực rỡ xanh đỏ tím vàng, la la, hét hét, ợ ợ, ngáp ngáp, trợn trợn, chui vô màn vô mùng, đứng trên bục cao quơ quơ, rắc rắc, thì người ngu u mê càng tin tưởng và cúng tiền càng nhiều, bởi lẽ ai ai cũng có người thân đã qua đời. Mọi người đều thấy tệ nạn lừa đảo hiện giờ trong các chùa rất lộ liễu, kể cả các hàng gọi là lãnh đạo cao cấp của các giáo hội trong và ngoài nước. Nhà chùa vô hình, vô tình đã biến nơi tu hành thành nơi nhà mồ nghĩa địa, nơi thực hiện sự mê tín của dân gian, gạt gẫm, lừa đảo bá tánh u mê.
 
image
Trong lúc con người còn sống mà còn chưa hiểu biết được Cực Lạc, Thiên Đàng ở đâu? Có hay không có? Huống là người chết, nằm trong hũ tro còn nghe thấy được những gì? Nếu người chết rồi quả thật nghe kinh và được sanh về Cực Lạc Thiên Đàng, thì người sống tu hành làm gì cho cực khổ. Khi còn sống, con người cứ lo tạo nhiều tiền nhiều của, bất chấp thiện ác. Khi chết, người đó dặn thân nhân, thỉnh mời hàng trăm thầy chùa, hàng trăm ông cha đến cầu siêu, cầu hồn thì khoẻ quá. Sống ngon chết tốt như vậy ai mà không ham chớ.
 
image
Hãy đem tro ra biển
Đó là những tệ nạn trong chùa - không phải chính là Phật Giáo - mọi người nên cảnh giác các mánh khoé lừa đảo này. Phật giáo là những giáo lý dạy NGƯỜI SỐNG, ăn hiền ở lành, tu tâm dưỡng tánh, giác ngộ giải thoát, quay đầu hướng thiện (đáo bỉ ngạn) - chứ không dạy con người đợi đến lúc nằm trên giường bệnh mới biết niệm Phật, đợi nằm trong quan tài, trong nấm mồ, trong lò thiêu, hay nằm trong hủ tro, mới chịu nghe kinh kệ. Tất cả đã quá muộn màng. Tất cả là do con người gạt gẫm nhau thôi.

Văn Phòng Phật Học Tuệ Quang CANADA

XIẾC TRÊN ĐƯỜNG PHỐ VN


Nhung kieu cho hang

Chở mía thế này đến vẹo xương sườn và mỏi nhức chân mất thôi
Nhung kieu cho hang
Thế này làm sao rẽ trái được?

Nhung kieu cho hang
Không thể sáng tạo hơn

Nhung kieu cho hang
Buộc và giữ chú trâu này trong lúc di chuyển quả là cực hình

Nhung kieu cho hang
Xe rách chở xe nát
Nhung kieu cho hang

                        
Một anh với bốn cô, chiếc xe máy chắc khổ lắm,4 Cô này thay phiên . . . , thằng lái xe Honda không té lăn quay mới là phép lạ.

Nhung kieu cho hang
Những cảnh như thế này rất hay gặp trên một vài con phố ở Thủ đô xứ Việt 

Nhung kieu cho hang
Quá siêu

Nhung kieu cho hang
Kiểu ngồi bá đạo

Nhung kieu cho hang
Gánh xiếc rong trên đường phố còn chơi phôn

Nhung kieu cho hang
Lợn một bên và em một bên


http://i.imgur.com/QZiUQrv.gif

Tuesday, May 10, 2016

BIẾM HỌA VC CHỐNG TRUNG CỘNG


Rạng sáng ngày 17/2/1979, quân Trung Quốc đã bất ngờ nổ súng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, đồng thời xua hơn 60 vạn quân tràn vào vùng biên địa của đất nước. Trong những ngày ấy, các họa sỹ biếm của Việt Nam đã dùng biếm họa như một thứ vũ khí sắc bén để cùng với toàn dân tộc chống lại quân xâm lăng.



Tập tranh biếm họa "Mưu sâu họa càng sâu!", đả kích tập đoàn bành trướng Bắc Kinh đã được Nhà xuất bản Quân Đội nhân dân ấn hành 20.200 cuốn vào tháng 12 năm 1979. Các họa sĩ vẽ tranh gồm có Nguyễn Đạo Hưng, Trịnh Lập, Dương Lê, Nguyễn Nghiêm, Huy Quang, Văn Thanh. Xem lại những bức tranh này thật thú vị, và hơn nữa ta vẫn thấy được tính thời sự nóng hổi của chúng.

Dĩ nhiên, có những bức biếm họa mang không khí, hoàn cảnh của thời đó, có thể không còn phù hợp với hoàn cảnh của ngày hôm nay, và chúng ta không nên xem với tâm thế của những ngày hừng hực máu lửa năm 1979 ấy. Mọi thứ đã khác, bạn-thù cũng chồng chéo hơn và là một thực tế mà mỗi chúng ta ngày hôm nay cần phải thận trọng hơn trong cách nhìn nhận.


”Biên giới của chủ nghĩa bành trướng”: Chủ nghĩa bành trướng Đại Hán được nuôi dưỡng từ nghìn năm phong kiến, biến tướng qua thời hiện đại vẫn không che dấu được tham vọng mở rộng biên cương lãnh thổ theo bước chân của những đội quân xâm lược. Đất nước nhỏ bé phía Nam luôn là một trong những mục tiêu đầu tiên.


“Mô hình thế giới kiểu 1949 của Bắc Kinh”: Tham vọng bá quyền nước lớn của chính quyền Bắc Kinh không dừng lại ở việc mưu toan chinh phục các quốc gia lân cận mà còn vươn tới tầm thế giới với mô hình “chính quyền trên đầu nòng súng!”, muốn cả thế giới đầy bóng đại cán Tàu. Tham vọng này được cổ vũ bởi việc quân giải phóng của Mao giành chính quyền ở đại lục năm 1949.


“Điên đảo”: Với chính quyền Đặng Tiểu Bình ở thời điểm ấy, những giá trị “bạn”, “thù” quay tít như con thò lò trên hình chữ “vạn” của phát xít Đức, với phương châm thực dụng tối đa: “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng, miễn là bắt được chuột!”.


"Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã": Đặng Tiểu Bình và nhà độc tài Pinochet của Chile đang chào theo kiểu Đức Quốc xã trước di ảnh của trùm phát-xít Hitler.


"Cuồng vọng và hiện thực": Hiện đại hóa quân đội để bành trướng xâm lược trên nền tảng của một nền sản xuất lạc hậu?


"Sự cố gằng điên khùng": Trung quốc muốn trở thành siêu cường quân sự như Mỹ bằng "4 hiện đại", nhưng đây chỉ là điều viển vông. Chú ếch Trung Quốc có thể sẽ nổ tung nếu cố gắng thổi phồng chính mình để to bằng chú bò Mỹ.


“Củ cà rốt và cái bóng”: Đó là hiện đại hóa công nghiệp, hiện đại hóa nông nghiệp, hiện đại hóa quốc phòng, hiện đại hóa khoa học và công nghệ. Quá trình “hiện đại hóa” để tăng cường sức mạnh quân đội nhằm gây chiến với các nước láng giềng luôn được chính quyền phương Bắc đậy điệm bằng những ngôn ngữ dân sự hiền lành, như củ cà rốt che đậy linh hồn của một quả bom…


“Bá nghiệp và sức kéo”: Một chính sách thực chất tập trung cho quân đội, trong khi lúc ấy, đời sống dân Trung Quốc còn rất lầm than.


"Miếng mồi không hi vọng": Chính quyền Bắc Kinh dùng miềng mồi "4 hiện đại" để như dân chúng kéo lê cỗ xe bá quyền.


“Mới hiện đại một nửa”: Trong chiến tranh, bao giờ cũng có việc bên này chê bai quân đội bên kia. Họa sĩ biếm Việt Nam giễu quân đội Trung Quốc lúc ấy trông có vẻ được trang bị oách thế nhưng thực tế là chẳng có gì, chỉ bốc phét.


“Hiện đại hóa quân đội”: Quân huy quân đội Trung Quốc có chữ “bát nhất” 八一. Theo họa sĩ, hiện đại hóa quân đội lúc ấy chỉ là đổi thành chữ “vạn” phát xít.


“Đối nội và đối ngoại”: một chính sách đối ngoại bành trướng, hung hãn, xua người nghèo đi lính xâm lược, đi kèm với đấu đá nội bộ.


“Đối ngoại và đối nội”: Đặng Tiểu Bình một mặt xâm lược Việt Nam, một mặt thanh trừng nội bộ để củng cố quyền lực.


“Kế hoạch đột xuất làm thêm 800 triệu cái khóa”: vào thời điểm ấy, dân số Trung Quốc vào khoảng 800 triệu người. Một trong những biện pháp thông thường của chính quyền Bắc Kinh là “khóa mồm” người dân lại, không cho họ được ý kiến ý cò gì, nhất là khi nhà nước tiến hành chiến tranh xâm lược.


“Kẻ kế tục”: “Truyền thống” tàn ác của giới cầm quyền bắt đầu từ thời bạo chúa Tần Thủy Hoàng, cho đến thời hiện đại của Đặng Tiểu Bình đã được mở rộng, “xuất cảng” sang Campuchia cho tập đoàn diệt chủng Pol Pot áp dụng với chính dân tộc mình, sát hại khoảng một phần ba dân số Campuchia chỉ trong vòng hơn 3 năm!


“Có một tỷ dân cơ mà”: Chiến thuật phổ biến nhất của các tướng chiến trường Trung Quốc thực thi trong chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979 là “biển người”, xua quân tấn công bất kể sống chết ra sao. Đây cũng là chiến thuật mà Trung Quốc đã áp dụng thường xuyên trong chiến tranh Triều Tiên hơn 20 năm trước. Với các nhà chỉ huy quân sự Trung Quốc, núi xương sông máu nào có ý nghĩa gì!


"Thử lửa": Rồng phương Bắc không bao giờ thắng được Thánh Gióng phương Nam. Lịch sử luôn khẳng định điều này.


"Cũng là truyền thống": Chính quyền Bắc Kinh dẫm lên hài cốt của những kẻ xâm lược đi trước để bành trướng xuống Việt Nam.

"Nối tiếp truyền thống": Người Trung Quốc cần hiểu rằng trong 2.000 năm qua, lưỡi giáo của người Việt đã kết liễu số phận bao nhiêu kẻ xâm lược.


"Bài học xưa cho hôm nay": Hùng hổ tiến đánh nước Việt bao nhiêu thì khi cuốn gói về nước càng ê chề nhục nhã bấy nhiêu, đó là bài học người phương Bắc nên nhớ.


"Cái hung hãn của kẻ chiến bại": Quân Trung Quốc "về đến nước mà vẫn tim đập chân run".

"Gần cạn rồi ngài Đặng ơi": Cuộc chiến tranh năm 1979 là thảm họa cho ngân sách quốc gia của Trung Quốc.


"Chắc là ống đồn Thoát Hoan": Cột đồng Mã Viện có thể chỉ là sự hư cấu, nhưng ống đồng Thoát Hoan thì chắc chắn là có thật.


“Một kiểu giơ tay đầu hàng”: Và đây mới là “quân uy” thật sự của quân Trung Quốc khi bị thất bại trên mảnh đất Việt Nam lúc ấy, không còn thể thống gì cả. Không có vũ khí, binh lính Trung Quốc thực dụng và hèn hạ đến bất ngờ.

“Quân uy của bọn cướp nước”: tấn công Việt Nam, binh lính Trung Quốc không giữ được “quân uy”, thấy lợn, gà… cũng bắt; không từ đàn bà, con trẻ…


"Thế mà nó cũng hiểu": Sau khi Đặng Tiểu Bình bắt tay Nixon thì lính Trung Quốc đã biết thêm một ngoại ngữ mới.


“Chiến thắng trở về”: Khi các quân đoàn chủ lực của Việt Nam được điều chuyển lên biên giới phía Bắc vào đầu tháng 3-1979 thì Bắc Kinh vội tuyên bố rút quân để tránh theo dấu những Thoát Hoan, Tôn Sĩ Nghị xưa kia! Chiến lợi phẩm thu được là lợn gà cướp trên chiến trường và một đội quân “chiến thắng” vội vã lẫn thất thểu trở về.


"Món chả nướng": Đơn giản là họ đã nướng rất nhiều quân ở Việt Nam.

"Sùng hai nòng": Vừa đánh vừa lu loa rằng Việt Nam là kẻ gây chiến với Trung Quốc.


“Mừng đại thắng”: Trung Quốc dĩ nhiên không bao giờ thừa nhận thất bại. Nhưng cuộc chiến xâm lược Việt Nam năm 1979 của họ đã phải trả giá cực đắt với hàng vạn lính phơi thây trên chiến trường. Băng pháo ăn mừng chẳng khác gì băng đạn nướng thây.


“Còn nỏ mồm chối cãi?!”: Vào tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc che đậy việc xâm lược, âm mưu cướp đất bằng chiêu bài “dạy cho Việt Nam một bài học”. Việc vạch mặt âm mưu ấy tựa như lột trần gót giày Tàu của kẻ vượt đường biên.


"Giấu đầu hở đuôi": Những tuyên bố đẹp đẽ về tình hữu nghị vô sản không thể che giấu được bản chất xô-vanh của chính quyền Bắc Kinh.


"Mặt này khỏi cần mộc": Mặc thế giới lên án, nguyền rủa, phỉ nhổ, nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn "mặt trơ chắn bóng".


"Bị tấn công bốn phía": Hành động xâm lược của chính quyền Bắc Kinh bị lên án bởi cả dư luận thế giới và nhân dân yêu hòa bình ở Trung Quốc.


"Có áp bức, có vùng lên": Một chân lý của lịch sử.


"Cũng có lúc súng giật hậu": Những người lính Trung Quốc cần thức tỉnh để hiểu rõ bản chất của kẻ đang giật dây mình.