Wednesday, April 27, 2016

40 NĂM GẶP LẠI:


TÚ TRINH THĂM CAFÉ XDNT
Phạm Đức Hiền
Dù nước da có hơi ngâm ngâm đen, nhưng khi xuất hiện tại Café XDNT sáng Thứ Bảy vừa qua (23 tháng 4 năm 2016), nữ nghệ sĩ Tú Trinh đã “chiếu sáng” khu vườn sau nhà Phúc-Diệu, nhất là làm cho những khuôn mặt các “cán lão” rạng rỡ được gặp lại “cố nhân” sau hơn 40 năm xa cách. 

Tú Trinh viếng thăm San José và Café XDNT vào đúng ngày sinh nhật của cô; vì vậy, mọi người đã nâng ly chúc mừng người đẹp bước qua tuổi sáu-mươi-tư vẫn còn “như”…thiếu nữ, theo lối dùng chữ của Ngô Đình Ngân, người trân trân “ngắm” cô nàng kẹp điếu “ba-số-năm” trên 2 đầu ngón tay, rồi ngửa mặt lên trời mà khen rằng: 

- Lâu lắm mới được nhìn thấy một phụ nữ Việt Nam phì phèo điếu thuốc thật “ngầu” và thật “cool”!

Đến với Café XDNT hôm nay còn có 2 người bạn của Tú Trinh là anh Văn Vân chị Cao Nga.

Thấm thoát cũng đã 41 năm kể từ ngày tan hàng, nhưng CB/XDNT vẫn không thể nào quên nhau; nếu có dịp là họ tìm cách thăm nhau để khơi lại những kỷ niệm êm khi còn được sống những ngày êm đềm bên nhau từ các Tỉnh Đoàn, từ Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ Quốc Gia Vũng Tàu, và từ Tổng Bộ XDNT ở 272 Hiền Vương, là nơi tập trung rất nhiều nghệ sĩ VNCH như Văn Hường, Nguyên Hạnh, Đinh Việt Lang, Huỳnh Thanh Trà, Bạch Lê, Bảo Tố, Nguyễn Trọng Tài, Nguyên Khai, Nghiêu Đề, Hồ Hữu Thủ…, và dĩ nhiên là cả Tú Trinh, người có tên “cúng cơm” là...Thu Ba.  (Không có liên hệ gì với "Thu Ba" và "Thu Bồn" của Bùi Giáng).

Phía Vovinam thì có các Võ Sư và HLV như Trần Huy Phong, Lê Công Danh, Nguyễn Gia Đức, Nguyễn Văn Đông, Vũ Kim Trọng…

Với Trần Văn Sung
Với Phạm Quang Mỹ
Ôi thôi chuyện cũ làm sống lại những ngày êm đềm anh em bên nhau, nhất là Trần Văn Sung, không thể nào quên được giọng chuyển âm và lồng tiếng trầm ấm của Tú Trinh; vì thế, trước khi chầu diêm vương một ngày không xa, (chắc cũng còn lâu) chàng Phạm Quang Mỹ, cựu Quận Trưởng An Lộc, cùng chàng Trần Văn Sung, cựu Tỉnh Đoàn Trưởng Pleiku và Phú Yên, cũng đã được hân hạnh chớp hình với người đẹp.
   
Mời quý anh chị bấm vào TÚ TRINH để xem một số hình ảnh chụp hôm Thứ Bảy vừa qua.

San Jose April 27, 2016
Phạm Đức Hiền

HIẾN THÂN DƯỚI CỜ


Những Giờ Phút Cuối Cùng của Tướng Trần Văn Hai
Trịnh Văn Ngạn viết theo lời kể của Tùy Viên Tướng Trần Văn Hai


Lời người viết: Trong khoảng thời gian 1975-1977, người viết bị giam tại trại Suối Tre, Long Khánh. Tại đây người viết ở chung D (tương đương cấp tiểu đội) với trung úy Huỳnh Văn Hoa, sĩ quan tùy viên của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh kiêm chỉ huy trưởng Căn Cứ Đồng Tâm. Trước đó, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai đã từng là chỉ huy trưởng Binh Chủng Biệt Động Quân, và cũng từng làm Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia.

Trong thời gian tù “cải tạo”, anh Hoa đã kể cho người viết nghe những giờ phút cuối cùng của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai. Ông đã chọn cho mình một cái chết anh hùng như một số tướng lãnh khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, thiếu tướng Phạm Văn Phú, thiếu tướng Lê Nguyên Vỹ,...
Hôm nay, nhân ngày Quân Lực (19.06.1994), người viết xin ghi lại những giờ phút cuối cùng của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai để chúng ta cùng suy gẫm và cùng để đốt lên nén hương tưởng niệm các "Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân", đã hy sinh cho công cuộc chiến đấu chung của dân tộc. Chi tiết về thời gian có thể lầm lẫn, vì chuyện kể cách đây đã hơn 15 năm rồi, nhưng nội dung câu chuyện thì không thể nào sai lạc được, vì cái chết của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai cũng như một số tướng lãnh khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã gây ấn tượng mạnh trong tâm não người viết.
"Tôi" trong bài là trung úy Hoa:

"...Căn cứ Đồng Tâm, một căn cứ quân sự quan trọng nằm ngay yết hầu trên cửa ngõ từ miền Tây về Sài Gòn. Một ngày nhộn nhịp xe cộ, kẻ ra người vào, hôm nay vắng lặng như tờ... Lúc bấy giờ là 14giờ 30 ngày 30.4.1975.

Sau khi theo vị tư lệnh họp mặt với các sĩ quan thuộc quyền ông lần cuối tại câu lạc bộ sĩ quan sư đoàn, tôi trở về phòng riêng trong dãy cư xá sĩ quan độc thân để thu xếp đồ đạc cá nhân và chờ lịnh. Mới cách đây 2 tiếng đồng hồ thôi, sau khi nhận được lệnh đầu hàng của “Tổng Thống” Dương Văn Minh và chờ "phía bên kia" đến bàn giao, Chuẩn Tướng Tư Lệnh liền triệu tập tất cả sĩ quan và ông ngỏ lời cám ơn, cùng chào từ giã các sĩ quan thuộc cấp của mình, đồng thời ra lịnh cho tất cả mọi người trở về gia đình thu xếp cho vợ con, tránh đụng độ với quân địch, đổ máu vô ích. Đúng 15 giờ, điện thoại Tư Lệnh gọi tôi lên văn phòng của ông. Sau lễ nghi chào kính như thường lệ, tôi đứng nghiêm đợi lịnh. Khác với mọi ngày, Chuẩn Tướng Tư Lệnh không ngước nhìn tôi, ông ngồi im như pho tượng gỗ; dường như ông đang suy tư một điều gì... Một lúc sau ông ra dấu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế tiếp khách, trước bàn làm việc của ông. Khi tôi an tọa, ông mới bắt đầu lên tiếng một cách từ tốn:
"Anh cám ơn em đã ở bên cạnh anh trong giờ phút cuối cùng này. Vận nước đã đến hồi như vậy, không thể làm gì hơn được. Là quân nhân chúng ta phải tuyệt đối chấp hành lịnh thượng cấp".

Sau đó ông hỏi thăm gia cảnh tôi. Cuối cùng, ông mở ngăn kéo làm việc, lôi ra một món đồ gói bằng giấy báo, ông đưa cho tôi và nói rằng:
"Sáng sớm ngày mai, em có thể trở về với gia đình. Anh nhờ em đưa gói đồ này cho mẹ anh và nói với bà rằng, đây là quà của anh gởi cho bà và bảo bà đừng lo lắng gì cho anh cả. Bây giờ em có thể về doanh trại thu xếp đồ đạc, từ giờ đến tối lúc nào cần anh sẽ gọi".

(Sau này tôi được biết trong gói quà ấy có 70,000 đồng cũng như có một số vật dụng cá nhân hàng ngày của Chuẩn Tướng Tư Lệnh).

Đứng dậy chào vị Tư Lệnh trở về doanh trại, lòng tôi bất ổn. Tôi linh cảm như sắp có điều gì ghê gớm xảy ra cho ông. Chờ mãi đến hơn 6giờ chiều, không thấy điện thoại Tư Lệnh gọi, lòng tôi hết sức bồn chồn, đứng ngồi không yên. Cuối cùng, tôi quyết định chạy bộ lên văn phòng Tư Lệnh...

Căn cứ Đồng Tâm rộng lớn chìm trong hoang vắng. Càng đến gần văn phòng Tư Lệnh tôi càng hồi hộp. Và rồi tôi cũng đến nơi. Đèn đuốc trong văn phòng vẫn sáng như mọi ngày, nhưng một bầu không khí lạnh lẽo bao trùm. Tôi rón rén bước lại cửa văn phòng, nghe ngóng động tĩnh...Vẫn hoàn toàn yên lặng! Sau cùng, tôi liều đẩy mạnh cánh cửa phòng làm việc của Tư Lệnh bước vào, một khung cảnh hiện ra trước mắt làm tôi hết sức ngỡ ngàng...

Chuẩn tướng Tư Lệnh ngồi gục đầu mê man trên bàn làm việc. Một ly rượu lớn đã cạn còn ở trên bàn. Tôi biết điều gì đã xảy ra... Tôi cấp tốc liên lạc với tiểu đoàn Quân Y và bệnh xá Sư Đoàn. Lúc ấy còn một vị thiếu tá bác sĩ ở bệnh xá. Tôi liền trình bày nhanh qua điện thoại tình trạng của Chuẩn Tướng Tư Lệnh. Chờ một lúc sau, Thiếu Tá Bác Sĩ lái chiếc xe Jeep cứu thương đến văn phòng Tư Lệnh. Chúng tôi đặt Chuẩn Tướng Tư Lệnh nằm trên băng-ca và chở xuống bệnh xá Sư Đoàn ngay. Lúc này ông đã mê man bất tỉnh. Tại bệnh xá, sau một hồi tận lực cấp cứu, vị Bác Sĩ buồn rầu báo cho tôi biết, vì thuốc độc đã ngấm vào máu khá lâu, Chuẩn Tướng Tư Lệnh không qua được cơn nguy kịch...

Chúng tôi lặng lẽ lau mặt cho ông, đặt ông nằm ngay ngắn trên băng-ca và đứng nghiêm chào vị Tư Lệnh đáng kính lần cuối.

Sau khi lấy chăn đậy thi hài ông lại, tôi trở về doanh trại thu xếp đồ đạc và quyết định khuya nay sẽ về Sài Gòn báo tin cho gia đình ông biết...

Khi về tới Sài Gòn, tôi được biết gia đình Tư Lệnh gồm vợ, con và mẹ đã chạy vào lánh nạn ở nhà thương Grall.

Sau khi gặp được gia đình ông trong nhà thương, gia đình ông quyết định bằng mọi cách phải mang xác ông về Sài Gòn.

Sáng hôm 01.05.1975, mẹ ông và tôi, một già một trẻ, bao nguyên chiếc xe Lambretta, loại xe ba bánh, xuống căn cứ Đồng Tâm. Chúng tôi đến nơi vào khoảng 10giờ sáng. Khác với hôm qua, hôm nay căn cứ tràn ngập người ra vào. Kẻ đi tìm con, người tìm chồng, kẻ đi hôi của,v.v...

Xe Honda chạy loạn xạ trong căn cứ. Khi xe lam của chúng tôi chạy đến cổng thì gặp một bộ đội cộng sản địa phương chặn lại. Như đã sắp đặt trước, mẹ của Tư Lệnh xuống xe mếu máo:
"Con ơi, má có thằng con bị bắt đi quân dịch, nghe nói đâu nó chết hôm qua, cho má vào nhận xác nó đi con! Tội nghiệp má quá, hòa bình rồi con ai cũng về nhà, riêng con má không về nữa..."

Nói xong, không đợi cho tên bộ đội trả lời, bà giục tôi lên xe và hối tài xề xe lam chạy lẹ vào căn cứ. Tên bộ đội trẻ cứ đứng há hốc miệng ra nhìn, chẳng hiểu ra sao cả. Tôi hướng dẫn tài xế xuống bệnh xá Sư Đoàn. Sau đó cùng khiêng thi hài Tư Lệnh lên xe, và đưa về Sài Gòn.

Về đến nhà thương Grall thì trời đã tối hẳn. Người ta xầm xì báo cho nhau biết chiều nay, ở đây, vừa cử hành đám tang tướng Phạm Văn Phú.

Phần tôi lúc này quá mệt mỏi, đầu óc vô cùng căng thẳng, không biết vợ con hiện giờ ở đâu...

Sau khi tẩm liệm xác Tư Lệnh xong, tôi đứng yên lặng nhìn ông lần cuối, không dám chào theo nghi thức quân đội vì sợ bị lộ tung tích, gia đình ông sẽ gặp nhiều phiền toái. Cuối cùng, tôi cũng phải từ giã vị Tư Lệnh đáng kính với hai hàng nước mắt đầm đìa để về tìm vợ con...

Tôi cũng xin nhắc lại một chi tiết đáng lưu ý, trước ngày 30.04.1975 một tuần lễ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có phái một chiếc trực thăng xuống căn cứ Đồng Tâm đón Chuẩn Tướng Tư Lệnh về Sài Gòn, nhưng ông đã từ chối. Ông chỉ cho vợ con về Sài Gòn, và sau cùng ông đã chọn một cái chết anh hùng như tôi đã kể cho anh nghe..."

Công dân ơi!
Mau hiến thân dưới cờ...

QUỐC HẬN & HẬU QUẢ "GIẢI PHÓNG" (Trần Nhật Kim)


“Ngày Quốc Hận 30-4”
Và Hậu Quả Tai Hại Của Cuộc “Giải Phóng”
Trần Nhật Kim

Sau 40 năm chiếm đoạt miền Nam và 70 năm gọi là Thống Nhất, một thời gian dài để người Việt hiểu rõ bản chất của chế độ cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam.  Một thời gian dài quá đủ để người Việt trong và ngoài nước nhận diện chế độ nào mang lại lợi ích thiết thực cho toàn dân, cũng như đưa dân tộc tới phú cường.  “Ngày Quốc Hận 30-4” trở thành thời điểm thúc đẩy Nhân Quyền tại Việt Nam.  “Ngày Quốc Hận 30-4” cũng là thời điểm để chúng ta nhận định, so sánh hầu chọn lựa giữa hai thể chế: Tự Do Dân Chủ mang lại “Tôn trọng Nhân phẩm, no ấm” hay Cộng sản “Độc tài đàn áp, đói nghèo”.
Một câu hỏi đặt ra, với hiện trạng Việt Nam sau 40 năm gọi là “Thống Nhất đất nước – Giải phóng dân tộc”, không còn tiếng súng từ Nam ra Bắc: tại sao người dân vẫn chưa thoát khỏi đói nghèo, vẫn không có một đời sống ấm no hạnh phúc?                                                             
“Giải phóng”: Cuộc chiến người Việt giết người Việt khiến đất nước tụt hậu
Trong chiến tranh Việt Nam, dù dưới bất cứ danh xưng nào: “Giải phóng dân tộc” hay chiến tranh “Ý Thức hệ”, dù là bên “Thắng cuộc” hay “Bị bức tử”, cũng chỉ là một cuộc chiến Người Việt giết Người Việt.  Đảng CSVN đạt thắng lợi nhưng phần thảm bại lại dành cho dân tộc Việt Nam.  Một cuộc chiến để lại nhiều đau thương, nhuộm đầy máu và nước mắt, nhưng tệ hại nhất là đã chia rẽ và gây hận thù dân tộc, khởi đầu từ chính sách “Bài Phong – Đả Thực” nối tiếp đến “Chống Mỹ cứu nước, Giải phóng dân tộc” và kết thúc bằng “Giải phóng Miền Nam” ngày 30-4-1975.  Một cuộc chiến kéo dài trong 30 năm, hao tổn nhiều sinh mạng nhưng không mang đến kết quả nào tốt đẹp cho dân tộc ngoại trừ đói nghèo và tụt hậu.
Nhìn sang các quốc gia có chung hoàn cảnh sau chiến tranh, như Nhật Bản và Đại Hàn, họ chỉ cần một thời gian ngắn 20 năm, đã từ một đất nước nghèo đói trở thành những con Rồng Á Châu, cả về hai phương diện, kinh tế và văn hóa giáo dục.  Người dân nước họ được thế giới kính nể. 
Ngay cả Campuchia, một quốc gia nhỏ bé có diện tích 181.035 Km2 với dân số 15.485.910 người, đã một thời bị CSVN khống chế, nhưng tìm lại đời sống thực sự hòa bình từ năm 1999.  Campuchia ngày nay đã phát triển, GDP (PPP) là 49.960 Tỉ Mỹ kim.  Theo Hiến pháp Campuchia năm 1993, Vương quốc Campuchia theo thể chế Quân chủ Lập pháp.  Hệ thống quyền lực được phân định rõ giữa Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp.  Người dân Campuchia đã đứng dậy, đòi hỏi cuộc bầu cử phải được tiến hành một cách tự do và công bằng.  Họ đã thành công.
Nền kinh tế Campuchia đang trên đà phát triển.  Trong đó phải kể, gạo Campuchia đã đạt thương hiệu là gạo ngon nhất thế giới, hiện diện tại các quốc gia Mỹ, Nhật và Châu Âu.  Các xí nghiệp của Campuchia đã thỏa đáng công ăn việc làm cho người dân, ngay cả việc thu nhận các công nhân đến từ Việt Nam.  Campuchia đã sản xuất xe hơi nhỏ.  Trong khi Việt Nam là nước xuất cảng nhiều gạo, nhưng vẫn chưa có thương hiệu nổi danh trên thương trường thế giới, ngoại trừ Châu Á và Châu Phi. 
Sau ngày chia đôi đất nước vào năm 1954, miền Bắc hưởng trọn tài sản của người dân bỏ nước xuất ngoại, hay của gần 1 triệu người di cư vào Nam, chưa kể chính sách “Cải cách Ruộng đất” cũng như “Cải tạo Công Thương nghiệp tư doanh”, tài sản không nhỏ của thành phần này đã nằm trong tay đảng. 
Để so sánh về mặt phát triển kinh tế của 10 quốc gia Á Châu vào thời điểm năm 1960, được xác nhận theo thứ tự trong bảng xếp GDP tính bằng Mỹ kim như sau:
          Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippine (275$), Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam 223$),          South Korea (155), Thailand (101$), Trung quốc (92$), Ấn Độ (84$), Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (miền Bắc 73$).  ò Hòa   HhH             HHH

          Như vậy, VNCH (miền Nam VN) đã ngang hàng với Phillipine, vượt qua South Korea, gấp 2 lần Thái Lan, gấp 2,4 lần Trung quốc, gấp 2,7 lần Ấn Độ và gấp 3 lần VNDCCH (miền Bắc VN).  Cũng như Đại Hàn và Nhật Bản, VNCH chỉ cần 20 năm đã nổi danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa giáo dục, mặc dù trong thời gian này, miền Nam luôn bị các lực lượng CS miền Bắc đánh phá.
Nhằm hỗ trợ kinh tế cho hai miền Nam-Bắc Việt Nam trong thời gian trên, ngân khoản viện trợ từ nước ngoài được tính theo Mỹ kim cho mỗi đầu người như sau: (*)
- Theo tác giả Douglas C. Dacy, những dữ kiện về Viện trợ kinh tế dành cho VNCH trong khoảng thời gian từ 1955-1975, ghi trong tác phẩm “Foreign Aid, war and economic development – South Vietnam 1955-1975”.  Để so sánh sự phát triển của hai miền Nam – Bắc Việt Nam, kể từ sau ngày chia đôi đất nước vào ngày 20-7-1954, chúng ta nêu ra dữ kiện của một vài năm tiêu biểu cho chương trình viện trợ này tính trên đầu người. 
     *Tại Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam):
          Năm 1956:             Mỗi người:   16,49 USD
          Năm 1957:                      -        21,58 USD
          Năm 1960:                      -        12,85 USD
          Năm 1961:                      -        10,46 USD
          Năm 1962:                      -        10,46 USD
          Năm 1963:                      -        12,79 USD
          …………                                 ……….
          Năm 1973:                      -        26,62 USD
          Năm 1974:                      -        31,99 USD
Với ngân khỏan viện trợ eo hẹp này sau thời gian di cư, chính quyền miền Nam phải lo định cư cho gần 1 triệu người cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng bao gồm tu sửa các trục lộ giao thông bị hư hại vì chiến tranh, kiến thiết các xa lộ và ổn định đời sống người dân cũng như phát triển các cơ sở văn hóa, giáo dục. VNCH đã xây dựng nhà máy giấy Cogido An Hảo ở Biên Hòa vào năm1961, đáp ứng 40% nhu cầu trong nước.  Hai xưởng dệt Vinatexco và Vimytex với năng xuất 13,2 triệu mét vải mỗi năm.  Nhà máy thủy tinh Khánh hội có năng xuất 15.000 tấn/năm.  Hai nhà máy xi-măng Hà Tiên và Thủ Đức với năng xuất 540.000 tấn/năm.  Xây dựng đập Thủy diện Đa Nhim và nhiều cơ sở khác…  Chính quyền và nhân dân miền Nam đã quyết tâm thực hiện nhiều công trình làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế sau này.
Tại miền Bắc, kể từ sau ngày chia đôi đất nước, nhân lực hùng hậu của tuổi trẻ thay vì cung ứng nhu cầu phát triển kinh tế hầu nâng cao đời sống người dân, đảng cộng sản đã thúc đẩy lực lượng này lao vào cuộc chiến đánh chiếm miền Nam.  Một cuộc chiến đã giết hại hàng triệu người từ Bắc vào Nam:

*Về phía VNCH:
          - Tử trận và mất tích:       316.000 (Theo sử gia R. J. Rummel)
          - Bị thương:                     1.170.000
*Về phía VNDCCH:
          - Tử trận và mất tích:       1.100.000 (300.000 bộ đội còn mất tích)
          - Bị thương:                        600.000
* Thường dân: (theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội)
          - Tổn thất nhân mạng:      4.000.000
          - Mang thương tật:           2.000.000
          - Nhiễm hóa chất:            2.000.000    

Vì không có khả năng sản xuất, nên hầu hết các nhu cầu hàng ngày cả về mặt quân sự lẫn đời sống của người dân, đã phải nhận viện trợ từ các nước trong khối cộng sản nhất là Trung cộng.  Một món nợ này phải trả sau khi chấm dứt chiến tranh.
Những dữ kiện viện trợ tài chính từ nước ngoài cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của năm 2006 tính trên đầu người, theo trang mạng của “Asian Development Bank – www.adb.org” và báo cáo của Tòa Đại sứ Đức tại Hà Nội về năm 2006 được ghi nhận:
     *Tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc Việt Nam):
          Năm 2006:             Mỗi người:   199,67 USD
(Ngân khoản viện trợ tái chính năm 2006 gồm có: 
          -Viện trợ của các nước ngoài:  3,7 Tỷ USD
          -Kiều hối:                                 4,7 Tỷ USD
          -Xuất cảng dầu thô:                          8,1 Tỷ USD
(* Nguồn: Nguyễn Hội- trang mạng Infor@ngodinhdiem.net)
     *Từ thời điểm 2013, sự phát triển của các quốc gia trong vùng không đồng đều, chẳng hạn Việt Nam ở mức độ 1.660 US$ trong lúc Singapore đang ở vị trí 50.889 US$.  Theo tiên đoán của IMF về sự phát triển GDP từ năm 2011 đế năm 2017, cũng xác định VIệt Nam sẽ không bao giờ đuổi kịp các quốc gia trong vùng, nếu vẫn tiếp tục tăng trưởng với cường độ hiện tại.  Chúng ta nhận ra, cơ chế của một chính thể đã ảnh hưởng rất nhiều tới sự phát triển của quốc gia đó.
Tại sao Việt Nam không phát triển
Sau khi xâm chiếm miền Nam vào ngày 30-4-1975, bằng bạo lực đảng đã chiếm đoạt tài sản của miền Nam, của công cũng như của tư nhân lên tới hàng trăm Tỷ Mỹ kim.   Qua các chính sách: cải tạo - đổi tiền - đánh tư sản - chiếm đoạt tài sản trong ngân hàng…  để cào bằng miền Nam, một hình thức cướp ngày, đã làm kinh tế miền Nam cạn kiệt.  Với tài sản khổng lồ chiếm được của miền Nam, thay vì để xây dựng kiến thiết đất nước tiến lên sau chiến tranh, đã chui vào túi các quan tham trong đảng, khiến đảng trở lên giầu nhưng người dân thì nghèo.  Đảng CS áp dụng chính sách “Bóp cổ, Túm dạ dầy” để không chế người dân.
Sau ngày mở cửa, nguồn tiền không hoàn trả từ cộng đồng người Việt hải ngoại gửi về hàng năm giúp thân nhân, đã thay đổi nếp sống người dân trong nước và vực dậy một quốc gia đang bên bờ vực thẳm.  Theo thống kê, tính từ ngày mở cửa tới năm 2013, kiều hối chuyển về Việt Nam lên tới 84 Tỷ Mỹ kim, không kể ngân khoản người Việt về thăm quê mang theo có thể lên gấp 2, 3 lần số kiều hối kể trên, một ngân khoản không kê khai trên giấy.  Riêng năm 2014, số kiều hối đạt mức 12 Tỷ Mỹ kim.
Nhìn vào những dữ kiện viện trợ tài chánh nêu trên của VNDCCH (sau này là XHCN), ngân khoản này ngày một gia tăng.  Nhưng tại sao Việt Nam vẫn tụt hậu, và đời sống kinh tế của người dân không được đảm bảo.  Có phải do thể chế chính trị hay nhân sự điều hành, hay cả hai?
Chúng ta tìm ra câu trả lời của một phần câu hỏi trên qua lời tường trình ngày 13-12 của ông Tổng Thanh tra chính phủ Huỳnh Phong Tranh, trong chương trình “Dân hỏi – Bộ Trưởng trả lời”.  Theo đó, “trong năm 2015, sau 40.000 cuộc thanh tra các cấp, ngành Thanh tra chính phủ đã phát hiện sai phạm làm thất thoát 212.000 tỷ đồng (tương đương 10 tỷ USD). 
Tổng thanh tra chính phủ chỉ đưa ra con số thất thoát trên chiếm khoảng 1/10 GDP của cả nước (120 tỷ USD), nhưng không nói rõ thành phần nào trong chính phủ đã gây ra tình trạng này.
Để sát với thực tế, Sử gia Dương Trung Quốc, nguyên Đại biểu quốc hội khóa X, XI, đã đưa ra con số chứng tỏ một trong những lý do khiến đất nước ta ngày càng nghèo, khi so sánh về dân số, diện tích và số nhân viên công chức của hai quốc gia - Hoa Kỳ và Việt Nam:
-         Hoa Kỳ: dân số: 320 triệu người, diện tích: 9.826.630 Km2, công chức: 2.1 triệu người.
-         Việt Nam: dân số:   90 triệu người, diện tích:  331.210 Km2, công chức: 2.8 triệu người.
Theo các con số trên, Hoa Kỳ có diện tích lớn hơn Việt Nam gần 30 lần, dân số lớn gấp gần 4 lần, nhưng số công chức điều hành của Hoa Kỳ chỉ bằng ¾ Việt Nam.  Điều này cũng chứng tỏ: 160 người dân Hoa Kỳ nuôi một công chức, trong khi tại Việt Nam 40 người dân phải nuôi một công chức.  Điều này đã được ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng ghi nhận: “30% công chức Việt Nam chỉ hưởng lương mà không làm việc”.  Một đất nước có 22 Bộ nhưng có đến 135 Thứ trưởng, mà thực chất, bộ máy hành chính lớn nhưng không mang lại kết quả hữu dụng nào. 
Một điều tệ hại hơn nữa khiến Việt Nam ngày càng tụt hậu, là ngoài bộ máy Nhà Nước có thêm bộ máy Đảng mà nhân số phục vụ ngày một phình lớn, cũng hưởng lương từ ngân sách quốc gia.
Ngoài ra, cần phải nhắc tới hệ thống móc ngoặc chằng chịt, mua quan bán chức, bao thư xuất hiện tại bất cứ nơi nào ngay cả tại bệnh viện, “thủ tục đầu tiên” đã trở thành một điều không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày giữa dân và chính quyền.  Bệnh nhân nghèo nằm la liệt tại hành lang bệnh viện chờ chết vì không có bao thư.  Hoặc giả có tiền cũng 2,3 người chung một chiếc giường nhỏ hay trải chiếu nằm trên nền nhà, ngay cả dưới gầm giường, trong lúc tượng đài Hồ Chí Minh, giá hàng tỷ đồng được đua nhau xây dựng khắp nơi.  Một công trình mà các quan vừa được tiếng mà có miếng. 
Thực phẩm độc hại tự do nhập vào miền Bắc qua cửa khẩu Lạng Sơn.  Mỗi ngày có hàng ngàn chiếc xe tải chở loại hàng độc hại này vào miền Bắc Việt Nam trước khi phân phối đi các tỉnh.  Những thực phẩm chờ phân hủy như heo chết, gà chết…cũng được các con buôn móc ngoặc nhập vào Việt Nam, sau khi tẩy rửa bằng hóa chất đã trở thành thực phẩm tươi tốt.  Mầm mống bệnh ung thư từ người già đến trẻ nhỏ gia tăng, khiến “bệnh viện ung bướu” không còn chỗ chứa.  Chợ bán hóa chất mang danh “Thần chết” đang có mặt tại nhiều thành phố.  TP. Hồ Chí Minh có chợ Kim Biên với đầy đủ mặt hàng hóa chất độc hại.   Đảng và Nhà nước CS Hà Nội biết rõ điều đó nhưng vẫn làm ngơ vì có “bao thư”, nhất là họ không xử dụng những thứ độc hại chết người này vì có dư tiền mua hàng nhập cảng, nên “sống chết mặc bay - tiền thầy bỏ túi”.  Đảng CS Hà Nội biết rõ tương lai dân tộc Việt sẽ đi về đâu, vẫn che mắt bịt tai.
Nạn trộm cướp gia tăng khắp nơi khiến người dân không cảm thấy an toàn mỗi khi ra đường.  Nhiều cảnh cướp giật gây tai nạn chết người xẩy ra trước mắt.  Cảnh sát giao thông đứng nhìn vì còn dành thì giờ kiếm mối vì “thủ tục đầu tiên” đang hoành hành tại đất nước này.  Đảng và “Nhà nước CS” phải biết rõ điều này nhưng vẫn không có hành động thiết thực nào để ngăn chặn, khiến du khách nhiều lần đưa tệ nạn này lên mặt báo trên thế giới.
Tệ nạn “buôn người” từ Bắc vào Nam ngày một gia tăng qua ngả hôn nhân “lấy chồng ngoại quốc” hay “xuất khẩu lao động”.  Phụ nữ Việt Nam trở thành món hàng rao bán tại nhiều nước Á Châu với giá rẻ mạt.  Người phụ nữ Việt biết như thế nhưng vẫn phải làm, vì đó là một lối thoát duy nhất cho bản thân và gia đình trước cảnh đói nghèo.  Ngay như Nguyễn Minh Triết, khi tới Hoa Kỳ vào cuối tháng 6/2007, đã mời gọi các nhà đầu tư Hoa Kỳ tới Việt Nam, vì đất nước của ông có nhiều gái đẹp.  Với hành động sỉ nhục phụ nữ này, khiến Triết dù mang danh Chủ tịch nước CHXHCNVN, đã trở thành kẻ rao hàng tệ hại nhất.  Như tin tức loan tải, một số phụ nữ Việt Nam khỏe mạnh đã trở thành “món hàng” cung cấp nội tạng tại Trung quốc.  CS Hà Nội biết điều này nhưng vẫn làm ngơ, mặc dù công an có mặt tại các hang cùng ngõ hẹp. 
Các cuộc biểu tình chống lại đám cán bộ cướp đoạt tài sản, ruộng vườn của ngưới dân nghèo từ Bắc vào Nam đã bị chính quyền CS đàn áp tàn nhẫn.  Ngay cả các cuộc biểu tình của người dân yêu nước chống lại hành động Trung quốc chiếm đất, chiếm biển của Việt Nam, cũng bị công an đánh đập.  Người dân Việt trong và ngoài nước đã bất mãn về hành động của CS Hà Nội và nhận ra tập đoàn này chỉ là một loại Thái thú của Trung quốc.  Để hợp thức hóa các hành động đàn áp  của đám công an, Thông tư 01/2016 của Bộ Công an Việt Nam cho phép cảnh sát giao thông ‘trưng dụng các phương tiện tham gia lưu thông’ từ ngày 15-2.  Quy định này đã vi phạm và bất chấp quyền lợi của người dân đã ghi trong Hiến pháp.
Tôn giáo cũng chung cảnh ngộ, giáo dân bị đàn áp, đánh đập ngay cả vào ngày lễ hội.  Trước hành động này, ngày 30-4-2015, Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc tế (USCIRF) tại Hoa Thịnh Đốn đã kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ xếp Việt Nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC).
Trước tình trạng đàn áp vi phạm Nhân quyền tại Việt Nam , Dân biểu Alan Lowenthal đã cùng với 34 vị Dân biểu Hoa Kỳ, gửi thư tới Tổng Thống Obama, kêu gọi Ông đặt Nhân quyền thành một vấn đề ưu tiên hàng đầu trong nghị trình cuộc họp Thượng đỉnh giữa Mỹ và 10 nước Á Châu tại California, Hoa Kỳ. 
Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay                                                            
Trước hành động đàn áp người biểu tình từ Bắc vào Nam, phản đối Trung quốc lấn chiếm hải đảo Hoàng Sa – Trường Sa  thuộc chủ quyền Việt Nam, tuổi trẻ yêu nước đã nhận ra bản chất tay sai của chế độ Hà Nội.  Đối với họ, CS thường rêu rao ngày 30-4-1975 là ngày đại thắng, nhưng thực chất chỉ là một vết nhơ, phản bội lịch sử và giống nòi.
Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đang nối gót những người đi trước, những người đã và đang bị cầm tù, bạc đãi trong nhà tù của đảng CSVN.  Những người đã đấu tranh ôn hòa vì an nguy của dân tộc, vì quyền sống của con người như: LM. Nguyễn Văn Lý, Trần Huỳnh Duy Thức, Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Phương Uyên, Lê Chí Quang, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Hùynh Thục Vi, Việt Khang…
Ngày 12-4-2015, anh Nguyễn Viết Dũng, biệt danh Dũng Phi Hổ (sinh ngày 19-6-1986) đã bị công an quận Hoàn Kiếm, Hà Nội bắt giữ.  Khi bị bắt anh Dũng đang mặc quân phục Việt Nam Cộng Hòa, cùng các bạn tuần hành phản đối dự án chặt 6.700 cây xanh lâu đời của thành phố Hà Nội.  Đây không phải lần đầu tiên anh bị bắt giữ, vì trước đây anh đã treo lá “Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ” trước nhà tại Nghệ An.  Anh Dũng ra tù ngày 13-4-2016 sau 12 tháng tù giam.   Khi ra tù anh vẫn mang phù hiệu Cờ Vàng trên ngực áo với hai chữ “Sát Cộng” xâm trên cánh tay.
Nhiều người đã viết bài ca tụng hành động của anh, nhưng cũng có người cho rằng hình xâm trên tay không còn là “tự do quan điểm” mà đã chuyển sang “tự do biểu đạt” và chịu ảnh hưởng của khoản 3 điều 19 của luật Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.  Thực ra, hình chữ “sát cộng” xâm trên tay của những người từng là nạn nhân của chế độ cộng sản.  Hình ảnh của 100 triệu nạn nhân cộng sản, đã in đậm trong tâm tư những người yêu tự do trên thế giới.  Chúng ta yêu Hòa bình nhưng không thể làm ngơ trước hành động diệt chủng của cộng sản.  Sự hòa giải dân tộc không thể mang lại khi mà CS Hà Nội vẫn còn hiện diện trên quê hương chúng ta.  Đối với người
tù cải tạo miền Nam, đối với người tỵ nạn CS trên thế giới, chữ “sát cộng” đã in đậm trong con tim của họ.  Dân tộc Việt chỉ có thể hòa giải, sống trong hòa bình khi không còn chế độ công sản. 
Một hình ảnh đáng phục khác được nêu danh, anh Huỳnh Ngọc Thiên Tường, sinh ngày 22-12-1981, hiện làm việc và sống tại TP.HCM, đã bầy tỏ quan điểm của anh về đảng CSVN.  Nột tập đoàn gây ra tội ác với những tệ nạn xã hội như tham nhũng cửa quyền, nhất là tình trạng an ninh ngày càng trở lên tệ hại… Anh cho rằng đảng CSVN và nhà nước XHCNVN đã hiện nguyên hình là một “tập đoàn cướp” sau ngày 30-4-1975.
Lòng yêu chuộng vẻ đẹp và đầy ý nghĩa của lá Cờ Vàng đã xuất hiện trên tà áo dài
trong ngày cưới của anh chị Phạm Thanh Nghiên (4 năm tù) và Huỳnh Anh Tú (14 năm tù).  Cuộc hôn nhân diễn ra tại Sài Gòn ngày 17-4-2016 đã thể hiện tình yêu thương sau 18 năm tù chung dưới chế độ CS độc tài, được điểm tô thêm do nhiệt tâm đấu tranh vì dân tộc.  Trong thành phần khách mời có 30 tù nhân Lương Tâm, mà con số năm tù cộng chung đã đạt tới 200 năm.
                                                                    *
Dù dưới bất cứ mỹ từ nào mà đảng CSVN đưa ra để biện minh cho hành động “Giải phóng Miền Nam) ngày 30-4-1975, thực chất vẫn chỉ là hành động diệt chủng.
Ngày Quốc Hận 30-4 đã khơi dậy niềm đau của cả dân tộc, một vết thương không thể lành khi còn tập đoàn cộng sản độc tài đảng trị, cũng là thời điểm thúc đẩy ý chí đấu tranh cho quyền sống của người dân Việt.  Sau ngày 30-4-1975,  tuổi trẻ Việt Nam đã nhận ra hành động phản bội dân tộc của đảng CSVN, một tập đoàn mang thân phận tôi đòi cho kẻ thù phương Bắc. 
Những tấm gương oanh liệt của người dân Ba Lan đã thành công khi họ quyết tâm từ bỏ chế độ CS độc tài để xây dựng dân chủ.  Chính nhờ sự quyết tâm dứt bỏ chủ nghĩa cộng sản, đã đưa đất nước Ba Lan bước vào thời kỳ hưng thịnh và phú cường, sau nhiều thập niên dưới ách cộng sản.   Người dân Campuchia đã đẩy những ám ảnh chết chóc của một thời diệt chủng vào dĩ vãng để hướng tới tương lai, khởi đầu một nền dân chủ, mặc dù nền dân chủ còn non trẻ và cần toàn dân góp bàn tay xây dựng.
Sau ngày 30-4-75, đất nước chúng ta mất dần biển đảo, do tập đoàn CS cầm quyền vì quyền lợi cá nhân đã nhượng bán cho kẻ thù Trung cộng.  Dưới chế độ cộng sản, chẳng còn bao lâu nữa đất nước chúng ta sẽ rơi vào vòng nô lệ.  Sự thịnh suy của Nước Việt là trách nhiệm của toàn dân Việt trong và ngoài nước, không thể trông đợi vào ngoại bang khi chúng ta không có hành động quyết tâm diệt trừ cộng sản. 
Tuổi trẻ Việt Nam đã nhìn rõ mối an nguy của dân tộc trước họa ngoại xâm.  Chỉ có lòng quyết tâm vì dân tộc mới đưa đất nước thoát khỏi ách nô lệ, mới đưa quốc gia tới thịnh vượng phú cường. 
Hãy đứng lên tuổi trẻ Việt Nam ơi!  Để Đất Nước Thoát Vòng Nô Lệ - Để Dân Tộc Tránh Được Họa Diệt Vong.                                IHHHHH
Tháng 4-2016
Trần Nhật Kim trannhatkim2@yahoo.com

NÓI VỚI ANH EM HỌ MIỀN BẮC




BÁC SĨ TRẦN MỘNG LÂM                                         
Dân Québec phần lớn gốc Pháp, nhưng khi họ nói về người Pháp, họ dùng chữ: “Nos cousins d’outre mer”, hoặc khi nóng giận, họ phang ngay một câu xanh rờn: “Les maudits Français”,(bọn mắc dịch !!!).
Đất Nam Kỳ thuở ban sơ không thuộc về Việt Nam. Chỉ mãi đến năm 1689, nhà Nguyễn mới có văn bản xác nhận chủ quyền tại mảnh đất này. Nam Việt sở dĩ có được là do công sức của các người di dân, gốc Việt, gốc Tầu, gốc Chàm, gốc Miên….v..v khai phá. Người di dân đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt, chai tay, phỏng trán mới tạo dựng nên được một vùng đất phì nhiêu, mầu mỡ.

Tôi đã nhiều lần viết là tập thể dân trong Nam không phải là người Việt Nam thuần chất. Vì người Việt đông hơn các sắc dân khác, nên họ vẫn dùng tiếng Việt để nói chuyện với nhau, nhưng nhìn các người Nam, vẫn thấy khác chút nào đó nếu so với người Bắc miền Hà Nội, Hải Phòng.

Sau 1954, nhiều người Bắc di cư vào Nam. Những người gia trưởng của thế hệ này nay đã phần lớn quy tiên, bọn trẻ con Bắc Kỳ Di Cư 1954, trong đó có tôi, được lớn lên và giáo dục với Văn Hóa Miền Nam. Vào thời điểm này. Lý thuyết Mác Lê là căn bản cho sự giáo dục các thanh thiếu niên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chúng tôi, tại Miền Nam, theo lý tưởng Tự Do tân tiến của các nước Tây Phương, với Tam Quyền phân lập.

Giữa chúng ta, không thể nói là cùng một nước.

Các anh và chúng tôi, cùng lắm, chỉ có thể là những người Anh Em Họ. Đùng ép nhau, anh em họ thì nhà ai nhà ai nấy lo, kiến giả nhất phận.
Chúng tôi chỉ mong các anh để chúng tôi yên.

Các anh không chịu như vậy, các anh gây chiến tranh trong suốt hai thập niên, và ngày 30 tháng tư 1975, các anh với súng đạn cung cấp bởi bọn Nga Tầu, kéo nhau vào xâm chiếm và nuốt trọn Việt Nam Cộng Hòa, tổ quốc của chúng tôi. Các anh vơ vét, cướp của, cướp đất, giam cầm chúng tôi, chiếm đoạt đàn bà miền Nam, hệt như các bộ lạc bên Phi Châu hậu tiến. Các anh không hỏi ý kiến người Miền Nam, tự tuyên bố chế độ độc tài đảng trị, tự đổi tên thành phố Sài Gòn; làm những chuyện không thể nào chấp nhận được; nhưng chúng tôi phải chịu, vì các anh có quyền lực đến từ họng súng của các anh.

Hỡi các người anh em họ ngang ngược.

Sau 1975, chúng tôi bỏ nước ra đi, chỉ vì một lý do duy nhất: không muốn sống với các anh, không muốn thấy mặt các anh. Nói là đi tìm tự do, thì cũng đúng đó, nhưng sự thực là sự thực, khi ra đi, cầm chắc cái chết trong tay, chúng tôi phó mặc cuộc đời cho Định Mệnh, chứ lúc đó có biết là đời mình sẽ ra sao. Cho nên sau này, có người nặng phần trình diễn, đặt những tên mỹ miều cho ngày 30 tháng tư. Tất cả chỉ là nói dóc. Ngày 30 tháng tư, chúng tôi ôm hận và chạy giặc. Chỉ có thế mà thôi.

Trở lại với Việt Nam ngày nay, thì vấn đề chánh chỉ là vì các anh dùng vũ lực giải quyết chuyện chúng ta với nhau. Có chính quyền trong tay, các anh chia xã hội ra làm trên 10 loại dân, trong đó dân Nam Kỳ đứng hàng áp chót. Như vậy là công bằng hay sao??

Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc về Việt Nam Cộng Hòa. Để đền ơn đáp nghĩa Trung Cộng, các anh để họ mặc tình xâm lấn. Như vậy các anh không thấy có lỗi với các người xưa như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo hay sao ??

Những năm sau này, các anh hay nói đến Hòa Hợp, Hòa Giải .

Hòa Hợp, Hòa Giải trong tình trạng hiện nay chỉ có nghĩa là các anh được tất cả, còn chúng tôi mất tất cả. Các anh có nằm mơ giữa ban ngày hay không mà lên tiếng kêu gọi như vậy.

Điều kiện ắt có và đủ để HHHG là xóa hết cái chế độ Độc Tài Đảng Trị đi đã. Nếu các anh yêu nước, thì phải giải tán Đảng CS đi. Đảng này gây nhiều tội lỗi lắm rồi. Còn cái Lý Thuyết Cộng Sản của các anh,  chưa nói là nó xấu, nhưng sự thực không phải là lý thuyết do người Miền Nam chọn. Người Miền Nam có được hỏi ý kiến bao giờ, đã có cuộc Trưng Cầu Dân Ý lần nào chưa.  Người Miền Nam chỉ muốn Tam Quyền Phân Lập. Vậy trước nhất là xóa bỏ cái bộ máy kìm kẹp của chính quyền hiện tại đi, rồi chúng ta nói chuyện phải trái sau. Chúng tôi không bao giờ cổ vũ bạo lực, chúng tôi không bao giờ cổ vũ chiến tranh, nhưng chúng tôi có sự hiểu biết, có lý trí. Nếu các anh nghĩ là có sức mạnh vũ khí, có tiền bạc trong tay, là các anh khuất phục được tất cả, thì đó là một sự lầm lẫn vô cùng tai hại cho nòi giống. Cùng lắm các anh chỉ có thể trở thành những Kim Jung Un, và tên này chắc gì mỗi đêm được ngủ yên.

Thế Sư xoay vần, người có lúc mạnh, lúc đau yếu, nước có lúc thịnh, có lúc suy. Đừng nghĩ là chế độ các anh sẽ vĩnh cửu. Tần Thủy Hoàng ngày xưa cũng lầm tưởng sẽ trường cửu muôn đời mà. Cái mà các anh phải hiểu là lòng dân mạnh hơn cả, và sau này, những xấu xa, độc ác của một thời, sẽ bị đời sau phanh phui và nguyền rủa. 

Trần Mộng Lâm.